MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm trên 70 % giá thành sản phẩm, do vậy nghiên cứu về dinh dƣỡng thức ăn chăn nuôi luôn đƣợc các nhà khoa học quan tâm. Việc tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp, thủy sản làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi là một hƣớng đi đúng và cấp thiết, các chƣơng trình dự án Quốc tế nhƣ SARECK, NUFU đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Một khía cạnh khác, việc lợi dụng kháng sinh, chất kích thích tăng trƣởng, chất tạo màu thực phẩm đã ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời, gây ra bao tác hại khôn lƣờng.
Codex đã đƣa ra hàng loạt loại thuốc kháng sinh cấm sử dụng trong chăn nuôi từ năm 2005. Do vậy việc chăn nuôi hữu cơ, sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, thảo dƣợc là việc làm cần thiết. Đã có một số công trình nghiên cứu về bổ sung bột lá keo dậu, bột lá cây trichathera, bột lá cây so đũa, đặc biệt là bột lá sắn trong khẩu phần nuôi gà đẻ và gà thịt. Kết quả cho thấy gà đƣợc ăn khẩu phần ăn có bổ sung bột lá thực vật thì khả năng sinh trƣởng và sức sản xuất thịt, trứng cao hơn so với khẩu phần ăn không có bột lá thực vật.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu cơ bản áp dụng việc bổ sung bột lá và trong thức ăn, chƣa quan tâm đến thay thế vào trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh. Trong khi việc thay thế nguyên liệu vào trong thức ăn đã đƣợc phối trộn cân đối, đầy đủ chất dinh dƣỡng sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc tự phối trộn từ nhiều nguyên liệu, đặc biệt là trong chăn nuôi nông hộ, một loại hình chăn nuôi phổ biến ở nƣớc ta. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sử dụng bột lá sắn với các tỷ lệ khác nhau trong chăn nuôi gà thịt Lương Phượng” 2. Mục tiêu đề tài Xác định đƣợc tỷ lệ sử dụng bột lá sắn thích hợp trong khẩu phần thức ăn nuôi gà Lƣơng Phƣợng lấy thịt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 Khuyến cáo ngƣời chăn nuôi tận dụng nguồn lá sắn tại địa phƣơng trong chăn nuôi gà thịt góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho ngành khoa học thức ăn và dinh dƣỡng gia cầm những thông tin cơ bản về việc sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà thịt. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Việc sử dụng bột lá sắn làm thức ăn cho gia cầm không những làm cho giá thành thức ăn hỗn hợp giảm mà còn nâng cao chất lƣợng thịt.
Kết quả nghiên cứu của đề tài còn có ý nghĩa thúc đẩy nghề trồng sắn thu lá cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn tạo nên sự phát triển nông nghiệp bền vững giữa trồng trọt và chăn nuôi tại địa phƣơng. Những đóng góp mới của đề tài Đề tài đã đƣa ra đƣợc tỷ lệ phối trộn bột lá sắn thích hợp cho gà thịt là từ 2- 6 % và bƣớc đầu mở ra hƣớng mới sử dụng bột lá sắn cho gia cầm. Đề tài đã chỉ ra hình thức bổ sung bột lá sắn vào thức ăn tự phối trộn là phù hợp và hiệu quả hơn thay thế vào thức ăn hoàn chỉnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đặc điểm sinh trƣởng và những yếu tố ảnh hƣởng tới khả năng sinh trƣởng của gia cầm 1. Đặc điểm sinh trưởng Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các đặc trƣng cơ bản của sƣ̣ sống. Trong các đặc trƣng cơ bản đó, sự sinh trƣởng là một đặc trƣng cơ bản đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Theo tài liệu của Chambers (1990) [41], thì tác giả MoZan (1977) đã đƣa ra khái niệm: Sinh trƣởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trƣởng của các bộ phận nhƣ thịt, xƣơng, da.
Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trƣởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dƣỡng và nhiều yếu tố khác. Trần Đình Miên và Hoàng Kim Đƣờng (1992) [23], đã khái quát nhƣ sau: “Sinh trƣởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lƣợng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trƣớc”. Sinh trƣởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lƣợng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể. Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hƣởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm.
Sinh trƣởng và phát d ục của cơ thể gia súc tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn. Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng - Ảnh hƣởng của dòng giống: Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng sinh trƣởng khác nhau. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [13], sự khác nhau về khối lƣợng cơ thể gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng năng suất thịt cao hơn giống gà hƣớng trứng từ 500 – 700 g/con (13- 30 %). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Theo tài liệu của Chanbers (1990) [41], thì nhiều gen ảnh hƣởng đến sự phát triển của cơ thể gà.
Có gen ảnh hƣởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hƣởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ. - Ảnh hƣởng của tính biệt và tốc độ mọc lông: Sự khác nhau về tốc độ sinh trƣởng và khối lƣợng của cơ thể còn do yếu tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trƣởng nhanh hơn con mái. Theo Phùng Đức Tiến (1997) [31], thì Hayers (1979) đã xác định biến dị di truyền về tốc độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính. Theo Siegel và Dumington (1978) [69], thì: những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lƣợng cao.
Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gà mái mọc lông nhanh hơn gà trống. Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lƣợng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thƣờng có chất lƣợng thịt tốt hơn. Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính (Biichell và Brandch, 1978) [1]. - Ảnh hƣởng của chế độ dinh dƣỡng: Chế độ dinh dƣỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trƣởng của gia cầm.
Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dƣỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trƣởng. Dinh dƣỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trƣởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dƣỡng thì thời gian đạt khối lƣợng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống. Để phát huy khả năng sinh trƣởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lƣợng th ức ăn theo nhu cầu mà còn phả i đảm bảo cân bằng protein, axit amin và năng lƣợng. Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm và đây là một trong những vấn đề cơ bản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 - Ảnh hƣởng của môi trƣờng: Điều kiện môi trƣờng có ảnh hƣởng lớn đến quá trình sinh trƣởng của gia cầm. Nếu điều kiện môi trƣờng là tối ƣu cho sự sinh trƣởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trƣờng không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hƣởng đến sức khỏe của gia cầm. Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trƣởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hƣớng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới (Wesh Bunr K. Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hƣởng tới khả năng sinh trƣởng vì gà rất nhạy cảm với ánh sáng , do vậy chế độ chi ếu sáng là một vấn đề cần quan tâm.
Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau nhƣ: ẩm độ, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hƣởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trƣởng của gia cầm. * Nhận xét chung: Sinh trƣởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lƣợng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trƣớc. Quá trình sinh trƣởng phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ: Giống, tốc độ mọc lông, chế độ dinh dƣỡng, điều kiện môi trƣờng, để quá trình sinh trƣởng đƣợc tốt cần phải có tác động phù hợp cho vật nuôi. Đặc điểm tiêu hóa của gia cầm Quá trình tiêu hoá ở gia cầm diễn ra nhanh hơn động vật khác.
Ở gia cầm non thức ăn đi qua đƣờng tiêu hoá 4 – 5h, ở gia cầm trƣởng thành mất 7 – 8h, thức ăn ở dạng hạt nguyên hoặc nghiền nhỏ đƣợc giữ lại lâu hơn, thức ăn dạng bột đi qua đƣờng tiêu hoá khá nhanh (đặc điểm này đƣợc tính đến khi chế biến thức ăn hỗn hợp). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Gia cầm hàng ngày cần phải đƣợc cung cấp nƣớc, protein, lipit, gluxit, chất khoáng. Giữa mức độ năng lƣợng và protein có mối tƣơng quan với nhau. Khi thiếu năng lƣợng trao đổi, có thể sử dụng protein vào mục đích tạo nguồn năng lƣợng, vì vậy tiêu tốn thức ăn cho 1 đơn vị sản phẩm sẽ tăng lên.
Nếu thừa năng lƣợng trao đổi, có thể sẽ tăng cƣờng tích luỹ mỡ. Việc thừa năng lƣợng trong thức ăn đặc biệt có hại đối với gia cầm dò và gia cầm mái hƣớng trứng, gây béo nhanh, làm giảm sản lƣợng trứng. Khả năng tiêu hoá xơ và nghiền nhỏ thức ăn của gia cầm kém hơn so với lợn và trâu bò. Gà tiêu hoá xơ của các loại thức ăn khác nhau từ 0 đến 20- 25 %.
Các dẫn xuất về đạm ít xơ (5 %) gà tiêu hoá đƣợc 80-90 %. Nếu xơ trong thức ăn chiếm 25-30 % thì gia cầm chỉ tiêu hoá đƣợc 5-10 %.