Chương 1: Téng quan + Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (8 trang) + Chương 3: Kết quả nghiên cứu. ~ Kết luận và kiến nghị ~ Tài liệu tham khảo. ~ Phụ lục CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. SU’ PHAN BO CUA VI SINH VAT TRONG DAT VA VAI TRÒ CUA VI SINH VAT DAT „ ĐẤt là môi trường sống tốt nhất cho vi sinh vật [13] Đất là môi trường rất thích hợp đối với VSV, nó là nơi cư trú rộng rãi nhất của VSV cả về thành phần cũng như số lượng so với các môi trường khác.
Sở dĩ như vậy vì trong đất nói chung va dat trồng trọt nói riêng có một khối lượng lớn chất hữu cơ, là nguồn thức ăn cho các nhóm VSV dị dưỡng. Ví dụ như nhóm VSV phân huỷ các hợp chất các bon hữu cơ, nhóm VSV phân huỷ các hợp chất nitơ hữu cơ. Các chất vô cơ có trong đất cũng là nguồn dinh dưỡng cho các nhóm VSV tự dưỡng, đó là các nhóm phân huỷ các chất vô cơ, chuyển hoá các hợp chất S, P, Fe. Các chất dinh dưỡng không những tập trung nhiều ở tầng đất mặt mà còn phân tán xuống các tầng.
Do đó ở các tầng đất khác nhau, sự phân bố của VSV khác nhau phụ thuộc vào hàm lượng các chất dinh dưỡng. Nhiệt độ trong đất cũng thích hợp cho nhiều loại sinh vật nói chung và 'VSV đất nói riêng, luôn giao động từ 20 - 30C. Độ ẩm trong đất đa số cũng phù hợp với VSV thường trong khoảng 25 - 85%. Sự phân bố của vi sinh vật đất theo địa điểm, tính chất của đất [13] Vi sinh vật ở đất giàu dinh dưỡng, tơi xóp, có độ âm, pH thích hợp sé phát triển tốt và có số lượng nhiều.
Trái lại, ở đất nghèo dinh dưỡng, kết cầu đất chặt, khô cần hay bị chua, mặn thì có số lượng ít. Chẳng hạn như đắt trồng lúa, tình trạng ngập nước lâu ngày ảnh hưởng độ thoáng khí, chế độ nhiệt. Chỉ ở độ sâu 0 - 3cm có quá trình oxy hoá, ở tầng dưới quá trình khử chiếm ưu thế. Bởi vậy, trong đất trồng lúa nước VSV kị khí phát triển mạnh, VSV.
hiếu khí phát triển yếu hơn. Đất vùng đồng bằng do tác động lâu dài của con người nên có số lượng. VSV lớn hơn đất ở trung du, miền núi. Vùng gò đồi do phá rừng nên bị rửa trôi mạnh, đất nghèo dinh dưỡng nên VSV ít.
Vùng đắt ngập trũng tuy nhiều chất dinh dưỡng nhưng độ thoáng khí kém, sự lên men kị khí sinh nhiều chất có hại cho sự phát triển của VSV nên số lượng VSV hiếu khí phát triển ít. Sự phân bố của VSV theo cây trồng[14] Đối với tắt cả cây trồng, vùng rễ là vùng VSV phát triển mạnh nhất so với vùng không có rễ vì rễ cây thường xuyên tiết chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng cho VSV hơn nữa rễ cây còn làm cho đất thoáng khí, giữ được độ âm. Mỗi loại cây đều có khu hệ VSV vùng rễ đặc trưng vì mỗi loại cây trồng trong quá trình sống rễ của nó thường tiết ra các hợp chất khác nhau, khi chết đi cũng có thành phần các chất khác nhau. Thành phần và số lượng của các hợp chất hữu cơ tiết ra từ bộ rễ quyết định thành phan, số lượng VSV sống.
trong vùng rễ đó. Mối quan hệ giữa đất - vi sinh vật- cây trồng [14] a. Mắi quan hệ giữa dat va VSV dat Đất có kết cầu từ những hạt nhỏ liên kết với nhau thành cấu trúc đoàn lạp của đất. Vậy yếu tố nào đã liên kết các hạt đất với nhau.
Có quan điểm cho rằng VSV đóng vai trò gián tiếp trong sự liên kết các hạt đất với nhau. Hoạt động của VSV, nhất là nhóm hiếu khí đã hình thành nên một thành phần của mùn là axit humie. Các muối của axit humic tác dụng với ion canxi tạo. thành một chất dẻo gắn kết những hạt đất với nhau.
Sau này người ta đã tìm ra vai trò trực tiếp của VSV trong việc tạo thành kết cấu đất. Trong quá trình phân giải chất hữu cơ, nắm mốc và xạ khuẩn phát triển thành một hệ khuẩn ty khá lớn trong đất. Khi nắm móc và xạ khuân chết di, vi khuân phân giải chúng. tạo thành các chất đẻo có khả năng kết dính các hạt đắt với nhau.
Ban than vi khuẩn khi chết đi và tự phân huỷ cũng tạo thành các chất kết dính. Ngoài ra lớp dịch nhảy bao quanh các vi khuẩn có vỏ nhày cũng có khả năng kết dính các hạt đất với nhau. Grenxe - 1 nhà nghiên cứu về kết cấu đất đã nhận xét rằng khi bón vào. đất những chất như xenluloza và protein thì kết cấu của đất được cải thiện.
Đó là do VSV phân giải xenluloza và protein đã phát triển mạnh, các sản phim phân giải và các chất tiết trong quá trình sống của chúng đã liên kết các hạt đất với nhau tạo nên cấu trúc đất. Sự hình thành và phân giải mùn đều do VSV đóng vai trò tích cực. Các biện pháp canh tác như cày bừa, xới xáo, bón phân. đều ảnh hưởng trực tiếp đến VSV và qua đó ảnh hưởng đến hàm lượng mùn trong đất.
Khi xới lớp đất canh tác nhưng không lật mặt, số lượng VSV cũng như cường độ hoạt động có tăng lên nhưng không nhiều bằng xới đất có lật mặt hoặc cày sâu. Tuy nhiên không phải đất nào cũng theo qui luật đó, đối với đất úng ngập, qui luật trên thể hiện rõ hơn trong khi đó ở đất cát nhẹ khô hạn thì việc xới xáo. không hợp lý lại làm giảm lượng VSV. Mối quan hệ giữa V'SV đất và cây trồng Những chất tiết của rễ có ảnh hưởng quan trọng đến VSV vùng rễ.
Trên bề mặt và lớp đất nằm sát rễ chứa nhiều chất dinh dưỡng nên tập trung VSV. với số lượng lớn. Càng xa rễ số lượng VSV càng giảm đi Thành phần VSV vùng rễ không những phụ thuộc vào loại cây trồng mà còn phụ thuộc vào thời kỳ phát triển của cây. VSV phân giải xenluloza có rất ít khi cây còn non nhưng khi cây già thì rất nhiều.
Điều đó chứng tỏ VSV' không những sử dụng các chất tiế của rễ mà còn phân huỷ rễ khi rễ cây già, chết đi Vi sinh vật sống trong vùng rễ có quan hệ mật thiết với cây, chúng sử dụng những chất tiết của cây làm chất dinh dưỡng, đồng thời cung cấp chất dinh dưỡng cho cây qua quá trình hoạt động phân giải của mình. VSV còn tiết ra các vitamin và chất sinh trưởng có lợi đối với cây trồng. Bên cạnh đó có rất nhiều VSV gây bệnh cho cây, có những loại ức chế sự sinh trưởng của cây, có những loại tàn phá mùa màng nghiêm trọng. Vai trò của vi sinh vật trong quá trình chuyển hóa vật chất [13] [14] a.
Visinh v@t phan gi i xenluloza Trong thiên nhiên có nhiều nhóm VSV có khả năng phân huỷ xenluloza nhờ có hệ enzym xenlulaza ngoại bào. Trong đó vi nắm là nhóm có khả năng. phân giải mạnh vì nó tiết ra môi trường một lượng lớn enzym đây đủ các thành phần. Các nắm mốc có hoạt tính phân giải xenluloza đáng chú ý là Tricoderma.
Hầu hết các loài thuộc chỉ 7zicoderma sống hoạt sinh trong đất và đều có khả năng phân huỷ xenluloza. Chúng tiền hành phân huỷ các tàn dư của thực vật để lại trong đắt, góp phần chuyển hoá một lượng lớn chất hữu cơ. Tricoderma còn sông trên tre, nứa, gỗ tạo thành lớp mốc màu xanh phá huỷ các vật liệu trên. Trong nhóm vi nam ngoai Tricoderma còn có nhiều giống khác có khả năng phân giải xenluloza nhu Aspergillus, Fusarium.
Nhiều loài vi khuẩn cũng có khả năng phân huỷ xenluloza, tuy nhiên cường độ không mạnh bằng vi nắm [12]. Nguyên nhân là do số lượng enzym tiết ra môi trường của vi khuẩn thường nhỏ hơn, thành phần các loại enzym. Thường ở trong đất có ít loài vi khuẩn có khả năng tiết ra đầy đủ 4 loại enzym trong hệ enzym xenlulaza. Nhóm này tiết ra một loại enzym trong hệ enzym xenlulaza.
Nhóm khác tiết ra một loại enzym, nhóm khác tiết ra các loại khác, chúng phối hợp với nhau dé phân giải cơ chất trong mi quan hệ hỗ sinh. Nhóm vi khuẩn hiếu khí bao gồm Pseudomonas, Xenllulomonas, Aehromobaeter. Ngoài vi nắm và vi khuẩn, xạ khuẩn và niêm vi khuân cũng có khả năng phân huỷ xenluloza. Người ta thường sử dụng xạ khuẩn đặc biệt là chỉ Streptomyces trong việc phân huỷ rác thải sinh hoạt.
Những xạ khuẩn này thường thuộc nhóm ưa nóng, sinh trưởng, phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 45 - 50°C rat thích hợp với quá trình ủ rác thải. Vĩ sinh vật phân giải phoiphat khó tan Các hợp chất lân vô cơ được hình thành do quá trình phân giải lân hữu cơ (còn gọi là quá trình khoáng hoá lân hữu cơ) phần lớn là các muối photphat khó tan. Cây trồng không thể hấp thu được những dạng khó tan này. Các hợp chất lân khó tan còn nằm trong các chất khoáng thiên nhiên như các mỏ Apatit, photphoric.
Nếu không có quá trình phân giải các hợp chất photpho khó tan biến thành dạng dễ tan thì hàm lượng photpho tổng số trong đất dẫu có nhiều cũng trở thành vô dụng. VSV phân giải những hợp chất photphat khó tan thuộc nhiều nhóm, nhiều loại khác nhau, có thể chiếm khoảng 10 — 15% hệ VSV đất (Sperrer, 1958; Swary và Sperrer, 1985, Katzneison và cộng tác viên, 1962) Vi khuẩn phân giải những hợp chat lân vô cơ thường gặp gồm các giống: Pseudomonas(Ps.aerogenes), Escherichia(E,freundi), Brevibacterium, Micrococcus, Flavobacterium (F.aurantiacus), Chlorobacterium(Chil.denitrificans), Mycobacterium " Loài phổ. ến nhất trong đất là Clostridiưn pasteurianum có hình que ngắn, khi còn non có khả năng di động bởi tiên mao. Khi già mắt khả năng di động.
Khi hình thành bào tử thường có hình con thoi do bào tử hình thành lớn hơn kích thước tế bảo. Clostridium có khả năng đồng hoá nhiều nguồn cacbon khác nhau như các loại đường, rượu, tỉnh bột. Nó thuộc loại kị khí nên các sản phẩm trao đổi chất của nó thường là các loại axit hữu cơ, butanol, etanol, axeton v. Đó là các sản phẩm chưa được oxy hoá hoàn toàn.
P và K và 2 nguyên tố rất cần thiết cho sự phát triển và có định nitơ của Clostridium. Ngoài ra các nguyên tố vi lượng như Mo, Co, Cu, Mn cũng rất cần thiết đối với Clostridium. Clostridium có khả năng phát triển ở pH = 4,7 - 8,5. Bào tử của chúng có thể chịu được nhiệt độ cao, có thể sống được 1 giờ ở nhiệt độ 80°C.
Một số loài còn có thể chịu được nhiệt độ 100°C trong 30 phút.