ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái trong đại dƣơng và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng nhƣ các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó. Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau. Ða dạng sinh học đƣợc xem xét theo 3 mức độ. Ða dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm.
Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng nhƣ khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. Nấm có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con ngƣời, có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân, trong khoa học cũng nhƣ trong vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Nhiều loài nấm là nguồn thực phẩm ngon và bổ dƣỡng; chúng chứa nhiều protein, acid amin, giàu các chất khoáng và vitamin. Một số loài nấm đƣợc ứng dụng trong công nghiệp dƣợc phẩm, dùng để điều chế các hoạt chất điều trị bệnh.
Từ xa xƣa, Linh chi đã đƣợc xem là "thƣợng dƣợc" để điều trị nhiều bệnh, giúp con ngƣời sống lâu, tăng tuổi thọ. Ngày nay, qua các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, đã xác định trong nấm Linh chi có các hoạt chất thuộc nhóm polysaccharide, steroid, triterpenoid, protein, acid amin, nucleotide, alkaloid, vitamin, các chất khoáng với nhiều hoạt tính dƣợc lý để điều chế dƣợc liệu. Ngoài giá trị về dinh dƣỡng, dƣợc phẩm, nấm cũng có nhiều lợi ích trong ngành lâm nghiệp. Một số loài nấm cộng sinh hình thành rễ nấm cộng sinh với thực vật, giúp cây tăng cƣờng sự hấp thụ và vận chuyển các yếu tố dinh dƣỡng, gia tăng khả năng sinh trƣởng của cây.
Vì vậy, chúng đƣợc ứng dụng trong các dự án tái sinh hoặc trồng mới rừng ở các vùng đất nghèo dinh dƣỡng. Nấm tham gia vào chu trình chuyển hóa vật chất trong tự nhiên. Do đó, nó là yếu tố quan trọng làm tăng độ phì nhiêu của đất. 1 Ngoài các lợi ích kể trên, các nấm hoại sinh trên gỗ gây mục trắng, mục nâu, mục hỗn hợp phá hủy gỗ rừng, gỗ xây dựng ở các công trình kiến trúc gây thiệt hại nghiêm trọng.
Một số loài ký sinh gây bệnh mục lõi, mục rễ ở cây đang sống làm cho cây chết hoặc bị yếu và gãy đổ, tác hại đến các ngành nông-lâm nghiệp. Một số loài nấm độc có các độc tố, chúng có thể gây ngộ độc hoặc gây chết ngƣời. Nấm lớn bao gồm những nấm có thể sinh bào tử đạt kích thƣớc lớn hơn 4mm trở lên, dù chúng thuộc taxon phân loại nào. Xã Quang Lang, Chi Lăng, Lạng Sơn có các điều kiện địa hình, đất đai và thảm thực vật khá phong phú, là điều kiện thuận lợi cho hệ sinh vật nói chung và hệ nấm nói riêng có tính đa dạng cao.
Vì vậy, việc nghiên cứu đa dạng của các loài nấm lớn ở xã Quang Lang nhằm xác định thành phần loài, bổ sung thêm thông tin cho danh lục khu hệ nấm lớn Việt Nam, đánh giá tính đa dạng sinh học và giá trị tài nguyên của nấm lớn là vấn đề cần thiết. Trên cơ sở đó, có thể sử dụng những loài có ích và hạn chế những tác hại do nấm gây ra, bảo tồn nguồn những loài quý hiếm, bảo vệ sự đa dạng sinh học trong vùng. Dựa trên những yêu cầu thực tiễn trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu sự đa dạng các loài nấm lớn tại xã Quang Lang – huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn”. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về nấm lớn trên thế giới Giới nấm là một trong những giới sinh vật có ý nghĩa rất lớn trong đời sống của chúng ta.
Từ xƣa, con ngƣời đã biết lợi ích và tác hại của nấm. Vì vậy, việc nghiên cứu chúng để phát huy mặt lợi và ngăn ngừa tác hại đã đƣợc tiến hành trong nhiều thế kỷ qua. Cách đây hơn 3000 năm, ngƣời Trung Quốc đã biết dùng nấm làm thức ăn. Vào thế kỷ IV trƣớc công nguyên, hai nhà bác học ngƣời Hy Lạp là Théophraste và Aristote đã đề cập đến nấm cục (Tuberaceae) và nấm tán (Agaricaceae) trong tác phẩm của mình.
Đến thế kỷ thứ I sau công nguyên nhà tự nhiên học ngƣời La Mã Pline đã nhắc đến nhiều nấm sống trên gỗ. Pline là ngƣời đầu tiên phân loại nấm dựa vào hình dạng ngoài và giá trị kinh tế của nấm, ông chia nấm thành hai nhóm: nấm ăn và nấm độc. Từ đó, con ngƣời bắt đầu chú ý đến giá trị kinh tế của nấm và sử dụng chúng rộng rãi trong cuộc sống. Michelier là ngƣời đầu tiên đã chứng minh rằng: nấm phát triển từ các bào tử.
Palisot de Beauvois đã chứng minh: nấm cũng có tổ chức, chúng có sợi, nở hoa (chín bào tử), phát sinh, phát triển và tiêu diệt. Thời kỳ này nấm học chƣa phát triển. Tuy nhiên, vẫn có một số công trình đã công bố, tiêu biểu nhƣ Linnaeus (1753) trong công trình về các loài thực vật “Species plantarum” đã đề cập đến nấm lỗ và sử dụng tên Boletus cho tất cả các nấm có bào thể dạng ống hay lỗ. Với sự phát triển đột phá của khoa học nấm các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm.
Những căn cứ để phân loại nấm cũng nhiều thêm nhƣ căn cứ vào hình thái,căn cứ vào phƣơng thức dị dƣỡng của nấm, chu trình phát triển của tế bào nấm. Hệ thống phân loại nấm Lỗ (Aphyllophonales) ngày nay thƣờng tuân theo hệ thống phân loại của Whitaker & Margulis (1978). Vào đầu thế kỷ XX, nấm học phát triển mạnh mẽ và trở thành một ngành khoa học, một trong những ngành mũi nhọn đƣợc con ngƣời quan tâm rất nhiều. 3 Nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.
Đặc biệt trong 30 - 40 năm qua một số chi mới đã đƣợc mô tả chủ yếu dựa vào các đặc điểm hiển vi, để chắc chắn rằng chúng đƣợc chấp nhận với những tiểu chuẩn phân loại hiện đại. Kết quả là các nhà nấm học đã hình thành một hệ thống phân loại khá ổn định ở Châu Âu, Bắc Mỹ nhƣ hệ thống của Domanski (1960), Jahn (1963), Ryvarden (1976 - 1978), Gilbertson & Ryvarden. Năm 1971, Aisworth đã đƣa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh. Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả, đặc điểm giải phẫu và phƣơng thức dinh dƣỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành 2 ngành: Ngành nấm nhầy (Myxomycota) và ngành nấm thật (Eumycota).
Từ hai ngành trên ông lại chia thành các lớp, lớp phụ, bộ, họ, chi, giống, loài. Nhƣ vậy trong một taxon phân loại thì đơn vị nhỏ nhất là loài. Năm 1993, nhà nấm học Phần Lan Donk đã hoàn thiện cho hệ thống phân loại của Karsten. Quan điểm phân loại này đƣợc rất nhiều nhà khoa học trên thế giới chấp nhận nhƣ Mayer.
Hiệp hội nấm quốc tế đã đƣợc thành lập năm 1971, lần triệu tập thứ 3 ở Tokyo – Nhật Bản đã nêu ra hệ thống phân loại chia giới sinh vật ra thành 6 giới. Nấm đƣợc chia vào giới riêng (dinh dƣỡng hút) khác với giới thực vật (quang hợp) và động vật (dinh dƣỡng nuốt) trong giới sinh vật đa bào loài nhân thật nhƣ đã trình bày ở trên có rất nhiều quan điểm và cách sắp xếp khác nhau. David Pegler và Brian Spooner (1994) nghiên cứu nấm ở Bắc Mỹ và Châu Âu trong tác phẩm “The mushroom identifier” đã công bố, mô tả 341 loài. Ryvarden và Gillbertson (1993, 1994) công bố công trình nghiên cứu nấm lỗ của Châu Âu “European polypores” đã mô tả 322 loài.
Ewald Gerhardt (1997) mô tả 1200 loài nấm lớn trong công trình “Der Grobe BLV Pilzfỹhrer”. Chee-Jen Chen (1998) nghiên cứu hình thái và cấu trúc phân tử của chi Tremella ở Đài Loan trong tác phẩm“Morphological and molecular phylogenies in the genus Tremella”, tác giả đã mô tả 26 loài thuộc chi Tremella.2 Nghiên cứu nấm lớn tại Việt Nam Ở Việt Nam, đến cuối thế kỷ XIX hầu nhƣ không có công trình nào nghiên cứu về phân loại nấm. Việc nghiên cứu nấm bắt đầu đƣợc tiến hành trong giai đoạn bị Pháp đô hộ. Ngƣời Pháp nghiên cứu nhiều nhất về nấm ở Việt Nam là N.
Ngoài ra, một số nhà nấm học khác cũng nghiên cứu nấm ở Việt Nam nhƣ: Roger, Petelot, Eberhardt. Tổng kết các kết quả của các nhà nấm học đã nghiên cứu và công bố nấm lớn Việt Nam từ 1890-1928 khoảng 200 loài; trong đó có 28 loài phân bố ở Trung bộ và 37 loài ở Bình Trị Thiên với 6 loài phân bố ở đèo Hải Vân: Amauroderma rude (Berk.) Torrend, Hymenochaete adusta (Lév., Laetiporus sulphureus (Bull. Ktze; Phylloporia fructica (Berk. và Polyporus grammocephalus Berk.
Đến năm 1953, ngƣời Việt Nam đầu tiên nghiên cứu về nấm là Phạm Hoàng Hộ, trong công trình “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” ông đã mô tả vắn tắt 48 chi và 31 loài nấm lớn, Hanson H. (1963) với công trình “Diseases and Pests of Economic Plants of Viet Nam, Laos and Cambodia”. Ở miền Nam Việt Nam có một số tác giả nghiên cứu về nấm nhƣ Hoàng Thị Mỹ (1966) đã mô tả 15 loài nấm phá hoại gỗ với công trình “Luận khảo về các bệnh thƣờng hại cây cối tại miền Nam Việt Nam”. Joly (1968) đã mô tả, xác định 20 loài nấm thuộc chi Xylaria.
Ngƣời có những đóng góp tới các công trình nghiên cứu to lớn về các loài nấm lớn tại Việt Nam là tác giả Trịnh Tam Kiệt. Công trình nghiên cứu phải kể đến là “Khu hệ nấm lớn ở miền Bắc Việt Nam” của ông (1981). Đi sâu vào bản chất sinh học, sinh lý của nấm là công trình “Một số vấn đề nấm học” của Bùi Xuân Đồng (1977), “Khoa học bệnh cây” của Đƣờng Hồng Dật (1979), “Đặc điểm sinh học của một số loại nấm phá hại gỗ” của Trần Văn Mão (1984), “Nấm lớn Cúc Phƣơng” của Trần Văn Mão và cộng sự (2004) … Các tác giả đi sâu 5 vào nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của nấm mục gỗ. Năm 2002, Ngô Anh báo cáo “Đa dạng nấm ở vƣờn Quốc gia Bạch Mã”.