ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học là sự phong phú về loài, về nguồn gen và hệ sinh thái trong tự nhiên. Đa dạng sinh học cung cấp trực tiếp những phúc lợi cho xã hội nhƣ: lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật dụng hằng ngày… Vậy làm thế nào bảo vệ tính đa dạng sinh vật để bảo đảm sự sinh tồn và phát triển của nhân loại là vấn đề đƣợc các nhà khoa học, các cơ quan chính phủ và các giới doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Hiện nay theo thống kê của GS. Trịnh Tam Kiệt có khoảng 14000 đến 22000 loài nấm lớn, trong đó có khảng 50% là nấm ăn (mushrooms) và có khoảng 7000 loài có khả năng làm thuốc chữa bệnh, 2000 loài nấm có thể nuôi trồng làm thực phẩm cho con ngƣời.
Nhƣng tồn tại trong thực tế còn rất nhiều loài nấm chƣa đƣợc biết đến, chƣa đƣợc định loài và nêu tên trong danh lục. Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao trên thế giới với cấu trúc địa chất độc đáo, địa lý thủy văn đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, những kiểu sinh thái khác nhau. đã góp phần tạo nên sự đa dạng của khu hệ nấm Việt Nam. Họ nấm Lỗ (Polyporaceae) thƣờng mọc trên gỗ và đất, đại bộ phận mọc trên gỗ.
Ngoài tác dụng phân giải các chất hữu cơ phức tạp thành chất hữu cơ đơn giản cung cấp dinh dƣỡng cho cây rừng, chúng còn chứa nhiều chất hóa học quan trọng giúp ích cho nền kinh tế, xã hội và môi trƣờng sinh thái, trong đó có các chất làm trắng giấy, chất khử độc và kim loại nặng, chất kháng u và làm thức ăn, nguyên liệu quý cho con ngƣời. Với sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài ngƣời, rất nhiều loài nấm đã bị mất đi trƣớc khi chúng ta biết đến và hiểu rõ đƣợc giá trị quan trọng của chúng. Nguyên nhân ngoài nạn chặt phá rừng, tăng dân số, còn chủ yếu là tính đa dạng sinh học của khu hệ bị coi nhẹ, thậm chí còn chƣa biết đến sự tồn tại của nấm. Vì thế việc nghiên cứu, bảo vệ và sử dụng hợp lý các loài nấm là 1 nhiệm vụ của các nhà khoa học và toàn thể ngƣời dân, là sự nghiệp vì thế hệ mai sau.
Vƣờn Quốc gia Tam Đảo nằm trong địa phận huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Là một vùng có tính đa dạng sinh học cao, có điều kiện thuận lợi cho các loài nấm phát triển, trong đó có rất nhiều các loài nấm thuộc họ nấm Lỗ. Từ trƣớc tới nay trên địa bàn chƣa có công trình nghiên cứu cụ thể về các loài nấm Lỗ. Chính vì vậy, để hiểu sâu hơn về thành phần, đặc điểm và đƣa ra các biện pháp quản lý các loài nấm Lỗ, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu sự đa dạng các loài nấm Lỗ (Polyporaceae) tại VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Từ xƣa, con ngƣời đã biết lợi dụng vào đặc điểm và sự đa dạng của sinh vật để sinh sống và tồn tại. Nhƣng với sự phát triển văn minh của xã hội, con ngƣời đã vô tình tạo nên những nguy cơ gây hại đến môi trƣờng, đến tính đa dạng của hệ sinh thái, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên sinh vật, thậm chí một số loài bị hủy diệt. Trong cuộc sống hàng ngày, con ngƣời đã nhận thức và lợi dụng đƣợc những công dụng của nấm nhằm đáp ứng nhu cầu của mình từ rất lâu. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc đi sâu vào phân loại giới nấm (Mycota) nói chung đã bắt đầu phát triển.
Về việc nhận biết đã có từ lâu khi nấm đƣợc con ngƣời sử dụng khoảng 6000 năm trƣớc, nhƣng về phân loại nấm thì chỉ mới đƣợc hình thành khoảng 200 năm, từ đó khoa học nấm mới đƣợc hình thành. Năm 1729 Michel lần đầu tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi và đƣa ra khóa luận trên tạp chí “Các chi thực vật”. Năm 1772 trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” Lineaus đƣa ra 10 chi nấm mọc trên đất. Nhiều nhà khoa học nổi tiếng thời kỳ sau là Peron.
Fries, I Sweinitz, Corda, Berkley. Khoa học bệnh cây bắt đầu gắn liền với nấm học từ năm 1851. Ngƣời sáng lập là A. Sau đó với sự phát triển đột phá của khoa học nấm các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm.
Những căn cứ để phân loại nấm cũng nhiều thêm nhƣ căn cứ vào hình thái, căn cứ vào phƣơng thức dị dƣỡng của nấm, chu trình phát triển của tế bào nấm. Hệ thống phân loại nấm Lỗ (Aphyllophonales) ngày nay thƣờng tuân theo hệ thông phần loại: hệ thông phân loại của Whitaker & Margulis (1978). Căn cứ vào hình thái thể quả và các mối quan hệ thân thuộc của chúng, năm 1881 nhà khoa học Phần Lan Karsten đã để cập đến việc phân loại nấm 3 và đƣợc đông đảo nhà khoa học nấm trên thế giới công nhận nhƣ: Cuningham G. Năm 1993 nhà nấm học Phần Lan Donk đã hoàn thiện cho hệ thống phân loại của Karsten.
Quan điểm phân loại này đƣợc rất nhiều nhà khoa học trên thế giới chấp nhận. Năm 1971 Aisworth đã đƣa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chinh. Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả, đặc điểm giải phẫu và phƣơng thức dinh dƣỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành 2 ngành: Ngành nấm Nhầy (Myxomycota) và ngành nấm Thật (Eumycota). Từ hai ngành trên ông lại chia thành các lóp, lớp phụ, bộ, họ, chi, giống, loài.
Nhƣ vậy trong một taxon phân loại thì đơn vị nhỏ nhất là loài. Hiệp hội nấm quốc tế đã đƣợc thành lập năm 1971, lần triệu tập thứ 3 ở Tokyo - Nhật Bản đã nêu ra hệ thống phân loại chia giới sinh vật ra thành 6 giới. Nấm đƣợc chia vào giới riêng (dinh dƣỡng hút) khác với giới thực vật (quang hợp) và động vật (dinh dƣỡng nuốt) trong giới sinh vật đa bào loài nhân thật nhƣ đã trình bày ở trên có rất nhiều quan điểm và cách sắp xếp khác nhau. Các hệ thống khái quát đang dần phá vỡ thay thế hệ thống mang tính tự nhiên, tỉ mỉ dễ áp dụng và nêu lên những mối quan hệ giữa các cá thể trong sinh giới, trong quá trình tiến hóa của tự nhiên.
Cho đến nay hệ thống phân loại của Ainsworth.(1971) đã và đang đƣợc các nhà nấm học trên thế giới sử dụng. Ở Việt Nam Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới, địa hình phức tạp, khí hậu và thảm thực vật đa dạng, do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao với khoảng 12000 loài thực vật bậc cao và 3000 loài động vật có xƣơng sống đã đƣợc mô tả, trong đó có cả những loài đặc hữu và sự đa dạng của khu hệ nấm Việt Nam. Ở Việt Nam, từ lâu nhân dân đã biết dùng nấm làm thực phẩm và dƣợc phẩm. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) trong tác phẩm “Vân đài 4 loại ngữ ” và “Kiến văn tiểu lục” đã đánh giá “Linh chi là một sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam” với các tác dụng lớn nhƣ: kiện não (tráng kiện), bảo can (bảo vệ gan), cƣờng tâm (mạch tim), kiện vị (giúp tiêu hoá ở dạ dày), cƣờng phế (giúp phổi), giải độc, giải cảm và giúp con ngƣời sống lâu, tăng tuổi thọ.
Qua các công trình nghiên cứu nấm ở Việt Nam giai đoạn 1890 – 1928, tổng cộng có khoảng 200 loài, trong đó 28 loài phân bố ở Trung bộ và 37 loài ở Bình Trị Thiên với 6 loài phân bố ở đèo Hải Vân: Amauroderma rude (Berk) Torrend,Hymenochaete adusta (Lév.) Bres, Laetiporus sulphureus (Bull. Fr) Murr, Microporus affinis (Blume & Nees) O. Ktze,Phylloporia fructica (Berk & Curt) Ryv. và Polyporus grammocephalus Berk.
Phạm Hoàng Hộ (1953) là ngƣời Việt Nam đầu tiên có công trình nghiên cứu về nấm với tác phẩm “Cây cỏ miền nam Việt Nam” ông đã mô tả vắn tắt 48 chi, 31 loài nấm. Ở miền bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm đƣợc bắt đầu vào năm 1954 tại Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Văn Diễn (1965) đã mô tả 28 loài nấm ăn đƣợc và 10 loài nấm độc; Trƣơng Văn Năm (1965) “Nghiên cứu nấm sống trên gỗ ở lâm trƣờng Hữu Lũng”; Trịnh Tam Kiệt với đề tài “Bƣớc đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng Hà Nội” (1965) và “Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính ở một số vùng miền Bắc Việt Nam” (1966). Tính đến năm 1978 đã có 618 loài thuộc 150 chi đƣợc ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các tác giả: Lê Bá Dũng (1977) “Nghiên cứu họ Polyporaceae miền Bắc Việt Nam” đã mô tả 22 loài; Năm 1978, Trịnh Tam Kiệt công bố “Những dẫn liệu về hệ nấm sống trên gỗ vùng Nghệ An”, tác giả đã mô tả 90 loài nấm sống trên gỗ.
Trịnh Tam Kiệt đã công bố công trình “Nấm ở Việt Nam (tập 1)”, tác giả đã mô tả 116 loài nấm thƣờng gặp ở Việt Nam đã xác định 111 loài. 5 Năm 1992, Phan Huy Dục thông báo “Nấm Linh Chi - nguồn dƣợc liệu quý hiếm cần đƣợc bảo vệ và nuôi trồng”. Năm 1996, Trịnh Tam Kiệt và Ngô Anh báo cáo về họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk ở miền Trung Việt Nam tại hội nghị quốc tế về nấm tại Nhật Bản với đề tài “Study on the family Ganodermataceae Donk in the Central Region of Vietnam” với 30 loài Linh chi ở miền Trung Việt Nam, trong đó có 20 loài mới ghi nhận lần đầu tiên cho khu hệ nấm ở miền Trung Việt Nam. Cùng năm đó, Ngô Anh nghiên cứu thành phần loài nấm sống trên gỗ ở Thừa Thiên Huế đã công bố 172 loài nấm, trong đó có 6 loài mới ghi nhận lần đầu cho khu hệ nấm Việt Nam.
Lê Xuân Thám nghiên cứu đặc điểm sinh học và quá trình hấp thu khoáng của nấm Linh chi Ganoderma lucidum (Leys.) Karst, bằng kỹ thuật hạt nhân; Phan Huy Dục đã phân loại bộ Agaricales ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam đã công bố 113 loài, trong đó có 15 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm miền Bắc Việt Nam; Trịnh Tam Kiệt công bố “Danh lục nấm của Việt Nam” gồm 826 loài.