Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Đối chiếu phương thức biểu đạt khả năng trong tiếng Hán và tiếng Việt" (汉越能性范畴对比研究) do nghiên cứu sinh Hồ Thị Nguyệt Thắng thực hiện tại Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành Lý thuyết ngôn ngữ Hán (mã số: 9220204.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh và TS. Vũ Thị Hà, bảo vệ năm 2020. Luận án thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, vận dụng phương pháp tiếp cận kết hợp giữa miêu tả định tính và thống kê định lượng trên ngữ liệu văn bản.

Phạm trù khả năng (能性范畴) phản ánh nhận thức của con người trước quy luật tự nhiên và các quy chuẩn xã hội. Khi con người nỗ lực hiện thực hóa mục tiêu nhưng chịu sự chi phối của điều kiện khách quan và chủ quan, ngôn ngữ phản ánh mối quan hệ này qua các phương thức biểu đạt tương ứng. Cả tiếng Hán và tiếng Việt đều sở hữu hệ thống phương tiện biểu đạt khả năng phong phú, bao gồm phương thức từ vựng (trợ động từ, phó từ, động từ, danh từ, tính từ) và phương thức ngữ pháp (bổ ngữ khả năng trong tiếng Hán, kết cấu vị từ đi kèm tiêu từ biểu đạt khả năng trong tiếng Việt).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu xuất phát từ thực tế: trong tiếng Hán, các từ ngữ biểu đạt khả năng có sự đan xen phức tạp về ngữ nghĩa và ngữ pháp, tồn tại nhiều từ đa nghĩa và đồng nghĩa; các kết cấu bổ ngữ khả năng tuy có số lượng không nhiều nhưng cấu trúc nội bộ và vị trí của các thành phần đi kèm rất phức tạp. Trong tiếng Việt, các phương tiện từ vựng và ngữ pháp biểu đạt khả năng cũng có độ phức tạp tương đương. Mặc dù từng có một số công trình khảo sát từng khía cạnh riêng lẻ, giới ngôn ngữ học vẫn chưa có công trình đối chiếu toàn diện, mang tính hệ thống giữa hai ngôn ngữ ở cả hai phương thức từ vựng và ngữ pháp.

Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là phân tích, làm sáng tỏ các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các phương thức từ vựng và ngữ pháp biểu đạt phạm trù khả năng trong tiếng Hán và tiếng Việt. Luận án tiến hành so sánh nội ngữ (语内比较) nhằm xác định sự phân công chức năng nội bộ trong từng ngôn ngữ, sau đó tiến hành đối chiếu liên ngữ (语际对比) nhằm chỉ ra các điểm tương đồng và dị biệt, cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy tiếng Hán tại Việt Nam và công tác dịch thuật.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhiệm vụ 3.1: Nghiên cứu lý thuyết phạm trù ngữ pháp - ngữ nghĩa, làm sáng tỏ các khái niệm liên quan đến phạm trù khả năng trong tiếng Hán và tiếng Việt, tổng quan các thành tựu nghiên cứu và lý thuyết đối chiếu ngôn ngữ làm khung lý thuyết nghiên cứu.
  2. Nhiệm vụ 3.2: Khảo sát, phân tích các phương thức từ vựng biểu đạt phạm trù khả năng trong tiếng Hán và tiếng Việt, làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp; so sánh nội ngữ để làm rõ sự phân công chức năng nội bộ của các từ năng tính; đối chiếu từ năng tính Hán - Việt để tìm ra tương đồng và dị biệt.
  3. Nhiệm vụ 3.3: Khảo sát, phân tích các phương thức ngữ pháp biểu đạt phạm trù khả năng trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt, làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp, sau đó đối chiếu hai ngôn ngữ trên các bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng.

Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm:

  • Các phương thức từ vựng: trợ động từ năng tính, động từ năng tính, phó từ năng tính, danh từ năng tính trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt.
  • Các phương thức ngữ pháp: bổ ngữ khả năng trong tiếng Hán hiện đại và các kết cấu năng tính tương ứng trong tiếng Việt.

Phạm vi nghiên cứu cụ thể:

  • Về phương thức từ vựng: Luận án tập trung khảo sát các từ biểu đạt khả năng điển hình trong tiếng Hán như "能" (năng), "可能" (khả năng), "可以" (khả dĩ), "会" (hội), "要" (yếu), "也许" (dã hứa), "大概" (đại khái) đối chiếu với các từ tương ứng trong tiếng Việt như "có thể", "sẽ", "có lẽ", "biết", "được"...
  • Về phương thức ngữ pháp: Khảo sát bổ ngữ khả năng tiếng Hán dạng "V得C" (và các dạng phủ định "V không C", "V đắc/bất liễu", "V đắc/bất đắc") đối chiếu với kết cấu tiếng Việt "V(C)+M" (trong đó M là các tiêu từ: "được", "nổi", "xuể", "kịp", "xiết").
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu đồng đại đối với tiếng Hán hiện đại quy chuẩn và tiếng Việt hiện đại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phạm vi tiếng Hán, tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu theo hai nhóm phương thức:

  • Phương thức từ vựng:
    • Về phó từ biểu đạt khả năng, Triệu Nguyên Nhiệm (赵元任, 1997) trong Ngữ pháp khẩu ngữ tiếng Hán đã xếp "nhất định", "dã hứa", "đại khái" vào nhóm phó từ khả năng. Diêu Kiệt (姚杰, 2005) nghiên cứu phó từ ngữ khí loại hoặc nhiên (chỉ phán đoán chủ quan như "đại khái", "đại ước", "dã hứa", "hoặc hứa", "khủng sợ"). Lý Thành Quân (李成军, 2005) phân tích đặc trưng cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của phó từ "nhất định".
    • Về trợ động từ năng tính, các tác giả Lý Mẫn (李敏, 2006) và Vương Hiểu Lăng (王晓凌, 2007) phân tích các động từ tình thái nhận thức ("ưng cai", "khả năng", "hội", "năng") trong phạm trù phi hiện thực. Lý Kiếm Ảnh (李剑影, 2007) trong Nghiên cứu phạm trù khả năng trong tiếng Hán hiện đại đã đưa lý thuyết tình thái (tình thái động lực, tình thái đạo nghĩa, tình thái nhận thức) vào nghiên cứu phạm trù khả năng. Dương Lê Lê (杨黎黎, 2015) khảo sát tính chủ quan và chủ quan hóa của trợ động từ tình thái. Các học giả nghiên cứu phạm vi và phân loại trợ động từ gồm Lý Canh Điếu (李庚钓, 1979), Tương Hữu Kinh (将有经, 1984), Vương Chấn Lai (王振来, 1997, 2002), Âu Tình (欧情, 2007), Phương Hựu Quân và Trương Bân (方绪军, 张斌, 2000), Trương Tân Minh (张新明, 1999), Chu Quán Minh (朱冠明, 2003), Tống Vĩnh Giai (宋永佳, 2004), Ngưu Bôn (牛奔, 2005), Bành Lợi Trinh (彭莉贞, 2007), Lữ Thúc Tương (吕叔湘), Quách Chí Lương (郭志良, 1993), Chử Trí Hâm (褚智歆, 2008), Văn Luyện (文炼, 1982), Chu Tiểu Binh (周小兵, 1989), Lưu Trác (刘卓, 2006).
  • Phương thức ngữ pháp (bổ ngữ khả năng):
    • Đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng trong tiếng Hán phổ thông được nghiên cứu bởi Lưu Nguyệt Hoa (刘月华, 1980), Lý Hiểu Kỳ (李晓琪, 1985), Trương Vượng Hy (张旺熹, 1996).
    • Quá trình biến đổi lịch sử và ngữ pháp hóa được khảo sát bởi Yakhontov (雅洪托夫, 1958), Chúc Mẫn Triệt (祝敏彻, 1960), Lữ Thúc Tương (1984), Nhạc Tuấn Phát (岳俊发, 1984), Dương Bình (杨平, 1989, 1990, 2001), Ota Tatsuo (太田辰夫, 2003), Tưởng Thiệu Ngu (蒋绍愚, 1995), Ngô Phúc Tường (吴福祥, 2002), Triệu Trường Tài (赵长才, 2002), Lưu Tử Du (刘子瑜, 2003).
    • Diễn biến loại hình ý nghĩa tình thái được nghiên cứu bởi Christine Lamarre (柯理思, 2000, 2005). Các nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc có Hàn Thư Canh (韩书庚, 2003) nghiên cứu theo lý thuyết ba bình diện; Hoàng Hiểu Cầm (黄晓琴, 2005) khảo sát điều kiện chủ quan và khách quan cấu thành dạng khả năng; Sử Duy Quốc (史维国, 2006) giải thích hiện tượng trước bổ ngữ khả năng không thể thêm tu từ ngữ; Lạc Chùy Luyện (骆锤炼, 2007) khảo sát tính từ làm bổ ngữ khả năng; Tôn Chính Ái (孙姃爱, 2009) phân tích ba dạng thức "V得/不C", "V得/不了", "V得/不得"; Lạc Lợi Bình (骆利萍, 2012) nghiên cứu cấu tạo vị từ và các tầng bậc ý nghĩa khả năng.

Trong phạm vi tiếng Việt, các nghiên cứu điểm lại gồm: Nguyễn Kim Thản (1977) trong Động từ trong tiếng Việt xếp "có thể", "có lẽ", "biết", "được" vào nhóm động từ tình thái; Nguyễn Việt Hương (1996) miêu tả ngữ nghĩa của "có thể" và kết cấu "V + được"; Huỳnh Công Hiển (2007) phân tích nhóm từ "có thể", "được", "nổi" theo khả năng nội tại chủ quan và điều kiện khách quan ngoại tại, đồng thời chia trạng thái thành trạng thái cơ bản ("được") và trạng thái duy trì ("nổi", "xuể"); Bùi Trọng Ngoãn (2004) khảo sát các động từ tình thái tiếng Việt.

Về nghiên cứu đối chiếu:

  • Đối chiếu tiếng Hán với các ngôn ngữ khác: Lưu Thục Phương (刘淑芳, 2007) đối chiếu tiếng Hán và tiếng Nhật; Phác Trinh Cơ (朴贞姬, 2008) và Tôn Chính Ái (2009) đối chiếu tiếng Hán và tiếng Hàn; Hạ Diệu Nguyệt và Lâm Lục (夏妙月, 林绿, 2015) đối chiếu trợ động từ tình thái Anh - Hán dựa trên phân loại của Palmer và Lyons.
  • Đối chiếu tiếng Việt với các ngôn ngữ khác: Vũ Đức Nghiệu (2002) so sánh "được, bị, phải" tiếng Việt với "ban, t'râu" tiếng Khmer; Nguyễn Thị Ngọc Hân (2008) phân biệt "được" và "có thể" cho người Nhật Bản; Nguyễn Thị Phương Trà (2005) đối chiếu phạm trù khả năng tiếng Pháp và tiếng Việt.
  • Đối chiếu tiếng Hán và tiếng Việt: Luận án của Từ Bích Diệp (徐碧叶, 2014) khảo sát cấu trúc "NP + trợ động từ + VP" và "V得/不C" với các kết cấu tương ứng trong tiếng Việt.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết:

  1. Đối với tiếng Hán, các nghiên cứu trước chưa giải quyết trọn vẹn sự phân công nội bộ giữa các từ loại năng tính (phó từ, trợ động từ, tính từ, danh từ), cũng như sự phân công và điều kiện hoán đổi giữa trợ động từ và bổ ngữ khả năng khi biểu đạt cùng một ý nghĩa khả năng.
  2. Đối với tiếng Việt, chưa có công trình nào miêu tả toàn diện, có hệ thống toàn bộ phạm trù khả năng ở cả hai phương thức từ vựng và ngữ pháp.
  3. Đối với nghiên cứu đối chiếu Hán - Việt, công trình của Từ Bích Diệp (2014) chủ yếu tập trung vào bình diện cú pháp, chưa phân tích đầy đủ các từ loại biểu đạt khả năng ngoài trợ động từ; nhận định của Từ Bích Diệp về thang độ ngữ nghĩa xác suất ("nhất định > hội > năng > yếu > khả năng") chưa phù hợp khi khảo sát thực tế ngữ liệu tác phẩm Báu vật của đời (Phong nhũ phì đồn) của Mạc Ngôn; đồng thời cấu trúc tiếng Việt "V+M" trong nghiên cứu của Từ Bích Diệp chỉ giới hạn ở 3 thành tố M ("được", "nổi", "xuể"), trong khi ngữ liệu thực tế tiếng Việt còn ghi nhận sự tham gia của "xiết" và "kịp". Do đó, luận án xác lập vị trí là công trình đối chiếu toàn diện, có hệ thống cả hai phương thức từ vựng và ngữ pháp giữa hai ngôn ngữ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các trụ cột sau:

  • Lý thuyết phạm trù và phạm trù ngữ pháp - ngữ nghĩa: Phân biệt phạm trù hình thức (dựa trên biến đổi hình thái) và phạm trù ngữ nghĩa (kết hợp nội dung ngữ nghĩa với các hình thức ngữ pháp hiển ngôn hoặc tiềm ẩn) theo quan điểm của Trương Địch Hoa (张涤华, 1988). Với các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Hán và tiếng Việt, việc nghiên cứu từ bình diện ngữ nghĩa đi tìm các phương thức ngữ pháp biểu đạt có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng.
  • Khái niệm và phân loại phạm trù khả năng: Tiếp thu định nghĩa của Hồ Thanh Quốc (胡清国, 2003) và mô hình phân loại của Ngô Phúc Tường (吴福祥, 2002), kết hợp sự phân định của Lữ Thúc Tương (1990) và Thẩm Gia Huyên (沈家煊, 1989), luận án chia phạm trù khả năng thành 5 tiểu loại ngữ nghĩa:
    1. Khả năng [Năng lực] (能力): Năng lực nội tại của chủ thể có sinh mệnh hoặc thuộc tính, công dụng vốn có của sự vật.
    2. Khả năng [Điều kiện] (条件): Năng lực được phép phát sinh hoặc đạt kết quả nhờ điều kiện khách quan bên ngoài cho phép.
    3. Khả năng [Xác suất] (或然性): Phán đoán, suy trắc của người nói dựa trên năng lực tư duy logic và nhận thức về một mệnh đề chưa chắc chắn.
    4. Khả năng [Chuẩn tắc/Đạo nghĩa] (许可): Năng lực bị chế ước bởi đạo đức xã hội, quy tắc, pháp luật hoặc chuẩn mực khách quan.
    5. Khả năng [Cho phép/Chuẩn hứa] (准许): Năng lực hình thành nhờ sự ưng thuận, cho phép mang tính ý chí của cá nhân người nói.
  • Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu: Vận dụng định nghĩa và phân loại của Hứa Dư Long (许余龙, 2001) và Ngô Thị Huệ (2017), áp dụng quy trình nghiên cứu đối chiếu 6 bước: (1) Xác định phạm vi; (2) Tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu; (3) Xác lập khung lý thuyết; (4) Thu thập ngữ liệu; (5) Phân tích đối chiếu; (6) Tổng kết.
  • Lý thuyết ngữ pháp Ba bình diện: Vận dụng quan điểm của Hồ Dụ Thụ (胡裕树), Trương Bân (张斌), Lục Kiệm Minh (陆俭明), Phạm Hiểu (范晓), Phạm Khai Thái (范开泰) để phân tích cấu trúc trên 3 bình diện: Cú pháp (kết cấu, trật tự, thành phần câu), Ngữ nghĩa (vai nghĩa, cấu trúc vị từ - tham tố, hướng ngữ nghĩa), và Ngữ dụng (cấu trúc thông tin, tiêu điểm, ngữ khí, hành vi giao tiếp).
  • Lý thuyết loại hình học ngôn ngữ và đặc điểm ngôn ngữ đơn lập: Xác định cả tiếng Hán và tiếng Việt đều là ngôn ngữ đơn lập (isolating languages) điển hình với các đặc trưng: tính chất âm tiết tính, từ không biến đổi hình thái, quan hệ ngữ pháp biểu thị bằng trật tự từ và hư từ, từ ghép chiếm ưu thế.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai gồm:

  • Phương pháp tư liệu (文献法): Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về phạm trù ngữ nghĩa, loại hình học, ba bình diện và ngôn ngữ học đối chiếu.
  • Phương pháp khảo sát (考察法): Thu thập các cứ liệu thực tế về từ ngữ và kết cấu năng tính trong văn bản.
  • Phương pháp thống kê (统计法): Thống kê tần suất xuất hiện của các từ năng tính và kết cấu năng tính, chuyển hóa từ định lượng sang phân tích định tính.
  • Phương pháp phân tích (分析法): Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, cú pháp, ngữ dụng của các phương thức biểu đạt để xác định sự phân công nội bộ.
  • Phương pháp đối chiếu (对比法): So sánh đối chiếu đối ứng liên ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt nhằm tìm ra điểm chung và điểm dị biệt.
  • Các phương pháp hỗ trợ: Dẫn chứng pháp (引证法), ví dụ pháp (例证法), quy nạp pháp (归纳法).

Nguồn tư liệu và ngữ liệu khảo sát:

  1. Ngữ liệu viện CCL Đại học Bắc Kinh (北京大学CCL语料库) và Từ điển cách dùng động từ tiếng Hán (汉语动词用法词典).
  2. Ngữ liệu viện Vietlex và Từ điển tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn).
  3. Các tác phẩm văn học hiện đại và đương đại Trung Quốc: Báu vật của đời (Phong nhũ phì đồn - 丰乳肥臀 của Mạc Ngôn), AQ chính truyện (阿Q正传 của Lỗ Tấn), Lôi vũ (雷雨 của Tào Ngu).
  4. Các tác phẩm văn học Việt Nam và bản dịch tiếng Hán tương ứng: Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao, Dế Mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (Nguyễn Nhật Ánh).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu (第一章 理论依据及相关研究综述)

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận cho toàn bộ luận án thông qua việc làm sáng tỏ bản chất của phạm trù ngữ pháp - ngữ nghĩa, lý thuyết ba bình diện ngữ pháp, loại hình học ngôn ngữ đơn lập và các nguyên lý của ngôn ngữ học đối chiếu. Luận án tổng quan chi tiết các công trình nghiên cứu về phạm trù khả năng trong tiếng Hán, tiếng Việt và các công trình đối chiếu liên ngữ trước đây.

Chương này xác lập mô hình phân loại phạm trù khả năng thành 5 tiểu loại ngữ nghĩa cốt lõi dựa trên nghiên cứu của Ngô Phúc Tường (2002) và Thẩm Gia Huyên (1989): Khả năng [Năng lực], Khả năng [Điều kiện], Khả năng [Xác suất], Khả năng [Chuẩn tắc/Đạo nghĩa], và Khả năng [Cho phép/Chuẩn hứa]. Đồng thời, chương 1 phân định ranh giới giữa phương thức biểu đạt từ vựng (do các từ năng tính đảm nhiệm) và phương thức biểu đạt ngữ pháp (do bổ ngữ khả năng trong tiếng Hán và kết cấu vị từ kết hợp tiêu từ năng tính trong tiếng Việt đảm nhiệm).

Bảng dưới đây tổng hợp kết quả nghiên cứu của Lưu Thục Phương (2007) được tác giả dẫn dụng trong Chương 1 nhằm làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa và cấu trúc biểu đạt khả năng trong tiếng Hán:

Dạng kết cấu Đặc điểm ngữ nghĩa Ví dụ thực tế
V得/不C (Bổ ngữ khả năng) Điều kiện chủ quan hoặc khách quan có dung thứ để thực hiện một kết quả hay xu hướng nào đó hay không. 我家只有一个忙月,忙不过来。
(Nhà tôi chỉ bận một tháng, bận không xuể.)
V得/不了 (Bổ ngữ khả năng) Điều kiện chủ quan hoặc khách quan có dung thứ để thực hiện một động tác hay biến hóa nào đó hay không. 她母亲可能道:“我哪管得了你呢?...”
(Mẹ cô ấy có thể nói: "Tôi làm sao quản nổi anh chứ?...")
V得/不得 (Bổ ngữ khả năng) Về mặt tình lý có cho phép hay không; hình thức phủ định chiếm đa số, thường dùng để khuyên ngăn, nhắc nhở, cảnh báo. 沈太太被他说得作声不得。
(Thẩm thái thái bị ông ấy nói cho không thể cất lời.)
能/能够 V (Trợ động từ) Chủ quan vừa có năng lực nhất định, đồng thời điều kiện khách quan dung thứ, tình lý cho phép để thực thi hành vi. 既然拿了,总也不能不还给人家。
(Đã cầm rồi, nói chung cũng không thể không trả cho người ta.)
会 V (Trợ động từ) (1) Năng lực có được qua học tập hoặc kỹ năng bẩm sinh;
(2) Đánh giá, suy đoán về một tình huống tương lai.
就是找得到事,钱也不会多,不会够她养家的。
(Dù có tìm được việc, tiền cũng không nhiều, sẽ không đủ nuôi sống gia đình cô ấy.)
可/可以 V (Trợ động từ) Chủ quan có năng lực, khách quan có điều kiện, tình lý cho phép; nghĩa cơ bản gần với "năng" nhưng tính chủ động thấp hơn, ngữ khí yếu hơn. Phủ định dùng "bất năng", ít dùng "bất khả dĩ", đáp lời dùng "bất hành". 他一看,已经多得不可收拾。
(Anh ấy nhìn thấy, đã nhiều đến mức không thể thu dọn.)

Chương 2: Đối chiếu phương thức từ vựng biểu đạt phạm trù khả năng trong tiếng Hán và tiếng Việt (第二章 汉、越表达能性范畴的词汇手段之对比)

Chương 2 tập trung phân tích và đối chiếu các phương thức từ vựng. Tác giả chỉ ra rằng trong tiếng Hán, các từ năng tính gồm:

  • Động từ năng tính: duy nhất từ "会" (hội) mang nghĩa năng lực có được qua rèn luyện khi kết hợp trực tiếp với danh từ chỉ kỹ năng/ngôn ngữ (Ví dụ: "我不会太极拳" - Tôi không biết thái cực quyền).
  • Trợ động từ năng tính: "会" (hội), "能" (năng), "可以" (khả dĩ), "要" (yếu). Trong đó:
    • "会" biểu đạt 2 tiểu loại: Khả năng [Năng lực] ("会1") và Khả năng [Xác suất] ("会2").
    • "能" là trợ động từ có phạm vi biểu đạt rộng nhất, bao quát cả 5 tiểu loại ngữ nghĩa: Khả năng [Năng lực] ("能1"), Khả năng [Điều kiện] ("能2"), Khả năng [Xác suất] ("能3"), Khả năng [Chuẩn tắc] ("能4"), Khả năng [Cho phép] ("能5").
    • "可以" biểu đạt Khả năng [Năng lực] ("可以1"), Khả năng [Điều kiện] ("可以2"), Khả năng [Chuẩn tắc] và [Cho phép].
  • Phó từ năng tính: "也许" (dã hứa), "大概" (đại khái), "可能" (khả năng).
  • Danh từ năng tính: "可能" (khả năng), "能力" (năng lực).

Trong tiếng Việt, phương thức từ vựng gồm các từ: "có thể", "sẽ", "có lẽ", "biết", "được", "không thể", "năng lực", "khả năng".

Qua thống kê định lượng và so sánh nội ngữ, luận án rút ra các luận điểm đối chiếu:

  1. Về số lượng và tần suất: Tiếng Hán có số lượng từ năng tính phong phú hơn, phân hóa tinh tế hơn về mặt ngữ thái. Tuy nhiên, tần suất sử dụng của các từ năng tính chủ chốt trong cả hai ngôn ngữ đều tập trung cao ở nhóm biểu đạt Khả năng [Năng lực] và Khả năng [Xác suất].
  2. Về đặc trưng ngữ pháp: Trợ động từ tiếng Hán và động từ tình thái tiếng Việt đều đứng trước vị từ trung tâm làm trạng ngữ, nhưng trợ động từ tiếng Hán có khả năng tham gia vào kết cấu câu hỏi chính phản dạng "X bất X" (như "能不能", "可以不可以") – một đặc trưng cú pháp mà tiếng Việt phải biểu đạt bằng cấu trúc ngữ khí cuối câu ("được không", "có thể... không").
  3. Về sự đối ứng giữa các thành viên điển hình:
    • "会" tiếng Hán đối ứng với "biết" (khi chỉ năng lực học tập) hoặc "sẽ" (khi chỉ xác suất tương lai) trong tiếng Việt.
    • "能" tiếng Hán tương ứng linh hoạt với "có thể", "biết", "được" tùy thuộc vào tiểu loại ngữ nghĩa cụ thể.
    • "可以" tiếng Hán đối ứng với "có thể", "được", "được phép" trong tiếng Việt.

Chương 3: Đối chiếu phương thức ngữ pháp biểu đạt phạm trù khả năng trong tiếng Hán và tiếng Việt (第三章 汉、越表达能性范畴的语法手段之对比)

Chương 3 đi sâu khảo sát các phương thức ngữ pháp. Tiếng Hán sử dụng kết cấu bổ ngữ khả năng, gồm 3 khuôn hình cơ bản:

  1. "V得C / V不C": Biểu đạt khả năng đạt được kết quả hoặc xu hướng do điều kiện chủ quan/khách quan quyết định.
  2. "V得/不了": Biểu đạt khả năng thực hiện hoặc hoàn thành động tác/biến hóa (mang tính lượng hóa hoặc triệt để).
  3. "V得/不得": Biểu đạt sự cho phép về mặt tình lý, chuẩn mực hoặc đạo đức xã hội.

Trong tiếng Việt, phương thức ngữ pháp tương ứng là kết cấu vị từ kết hợp tiêu từ năng tính: "(không) + V (+ C) + M", trong đó M là 5 tiêu từ: "được", "nổi", "xuể", "kịp", "xiết".

Các phát hiện và luận điểm đối chiếu của chương 3 gồm:

  • Tương đồng về tính bất đối xứng khẳng định - phủ định: Cả hai ngôn ngữ đều thể hiện xu hướng ưu thế mạnh mẽ của dạng phủ định (dạng phủ định xuất hiện với tần suất áp đảo trong ngữ liệu giao tiếp thực tế so với dạng khẳng định khi biểu đạt tình huống "muốn làm nhưng không thể làm").
  • Sự phân công ngữ nghĩa của tiêu từ M trong tiếng Việt:
    • "Được": Biểu đạt khả năng cơ bản, điều kiện khách quan hoặc chủ quan tổng quát.
    • "Nổi": Biểu đạt năng lực thể lực, tâm lý hoặc sức chịu đựng của chủ thể (trạng thái duy trì).
    • "Xuể": Biểu đạt khả năng giải quyết khối lượng công việc hoặc số lượng đối tượng quá lớn.
    • "Kịp": Biểu đạt khả năng thực hiện hành động bị hạn chế bởi giới hạn thời gian.
    • "Xiết": Biểu đạt khả năng ứng phó với mức độ, số lượng vô cùng lớn (thường đi với "không đếm xiết", "không kể xiết").
  • Dị biệt về trật tự từ và khả năng mang tân ngữ: Kết cấu bổ ngữ khả năng tiếng Hán có tính kết hợp chặt chẽ, tân ngữ thường phải đứng sau toàn bộ kết cấu "V得/不C + O" hoặc đưa lên trước làm chủ đề. Trong khi đó, tiếng Việt có tính linh hoạt cao hơn: tân ngữ O có thể xen vào giữa vị từ và tiêu từ M dạng "V + O + M" (ví dụ: "không làm bài tập được") hoặc "V + M + O" tùy thuộc vào cấu trúc ngữ nghĩa và tiêu điểm thông báo.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên về đối chiếu phạm trù khả năng giữa tiếng Hán và tiếng Việt ở cả hai bình diện từ vựng và ngữ pháp.
  • Xác lập khung miêu tả 5 tiểu loại ngữ nghĩa của phạm trù khả năng dựa trên lý thuyết ngữ pháp ba bình diện và loại hình học ngôn ngữ đơn lập, làm rõ cơ chế biểu đạt của từng phương thức trong tiếng Hán và tiếng Việt.
  • Bổ sung và chuẩn hóa thành phần tham gia kết cấu ngữ pháp tiếng Việt biểu đạt khả năng dạng "V+M" với việc xác định đầy đủ 5 tiêu từ M ("được", "nổi", "xuể", "kịp", "xiết"), khắc phục giới hạn của các công trình đi trước.
  • Đính chính nhận định về thang độ ngữ nghĩa xác suất của trợ động từ tiếng Hán qua việc phân tích ngữ liệu thực tế từ tác phẩm văn học của Mạc Ngôn, chứng minh rằng ngữ cảnh và sự kết hợp phó từ đi kèm đóng vai trò quyết định mức độ hiện thực hóa xác suất.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp luận cứ khoa học giúp giải quyết các khó khăn trong giảng dạy ngữ pháp tiếng Hán cho người Việt Nam, đặc biệt là việc phân biệt cách dùng của các trợ động từ dễ gây nhầm lẫn ("会", "能", "可以") và kết cấu bổ ngữ khả năng ("V得/不C").
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho người học tiếng Việt như một ngoại ngữ tại Trung Quốc.
  • Đóng góp trực tiếp cho công tác dịch thuật Hán - Việt và Việt - Hán, giúp dịch giả lựa chọn cấu trúc tương đương chính xác theo ngữ cảnh giao tiếp và đặc trưng ngữ dụng.

Kiến nghị và giải pháp:

  • Đề xuất đưa việc phân tích đối chiếu 5 tiểu loại ngữ nghĩa vào nội dung giảng dạy ngữ pháp tiếng Hán tại các trường đại học ở Việt Nam.
  • Thiết kế các dạng bài tập phân biệt từ đồng nghĩa, đa nghĩa và bài tập chuyển đổi kết cấu giữa trợ động từ và bổ ngữ khả năng nhằm khắc phục lỗi chuyển di tiêu cực (negative transfer) từ tiếng mẹ đẻ của sinh viên Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản luận án, các hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp gồm:

  • Hạn chế: Ngữ liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào các tác phẩm văn học hiện đại tiêu biểu và ngữ liệu viện chuẩn quy (CCL và Vietlex), chưa bao quát sâu các biến thể khẩu ngữ giao tiếp tự nhiên đời thường, các phương ngữ tiếng Hán cũng như các biến thể phương ngữ tiếng Việt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các thể loại văn bản khác (báo chí, văn bản hành chính, giao tiếp trên mạng xã hội); nghiên cứu sâu hơn về cơ chế ngữ pháp hóa mang tính lịch sử của từng thành tố năng tính; mở rộng so sánh đối chiếu với các ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Nam Á có cùng loại hình đơn lập.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Lý thuyết ngôn ngữ Hán và Việt ngữ học: Có thể tham khảo khung phân tích 5 tiểu loại ngữ nghĩa, phương pháp xử lý ngữ liệu song ngữ và mô hình áp dụng lý thuyết Ba bình diện cho ngôn ngữ đơn lập.
  • Giảng viên giảng dạy tiếng Hán tại Việt Nam và giảng viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Tham khảo chương 2 và chương 3 để xây dựng bài giảng chuyên đề về trợ động từ tình thái và bổ ngữ khả năng, dự đoán và sửa lỗi giao thoa ngôn ngữ cho người học.
  • Biên dịch viên và phiên dịch viên Hán - Việt: Tham khảo các bảng đối ứng ngữ nghĩa và quy tắc chuyển đổi cấu trúc cú pháp giữa bổ ngữ khả năng tiếng Hán và các kết cấu vị từ đi kèm "được", "nổi", "xuể", "kịp", "xiết" trong tiếng Việt.

Câu hỏi thường gặp

  1. Phạm trù khả năng trong luận án được phân chia thành những tiểu loại ngữ nghĩa nào?
    Phạm trù khả năng được chia thành 5 tiểu loại ngữ nghĩa: (1) Khả năng [Năng lực] (能力) - năng lực nội tại của chủ thể; (2) Khả năng [Điều kiện] (条件) - năng lực phát sinh do điều kiện khách quan cho phép; (3) Khả năng [Xác suất] (或然性) - sự suy trắc, phán đoán của người nói; (4) Khả năng [Chuẩn tắc/Đạo nghĩa] (许可) - sự cho phép của đạo đức, quy tắc, luật lệ; (5) Khả năng [Cho phép/Chuẩn hứa] (准许) - sự cho phép dựa trên ý chí cá nhân người nói.

  2. Các phương thức ngữ pháp biểu đạt khả năng trong tiếng Hán và tiếng Việt tương ứng với nhau như thế nào?
    Tiếng Hán sử dụng kết cấu bổ ngữ khả năng gồm 3 dạng: "V得/不C", "V得/不了", "V得/不得". Tiếng Việt sử dụng kết cấu "(không) + V (+ C) + M", trong đó M là 5 tiêu từ: "được", "nổi", "xuể", "kịp", "xiết". Cả hai ngôn ngữ đều có điểm tương đồng là dạng phủ định chiếm ưu thế tuyệt đối trong ngữ liệu thực tế khi biểu thị hoàn cảnh "muốn làm nhưng không làm được".

  3. Luận án đã bổ sung những thành tố nào cho kết cấu biểu đạt khả năng dạng ngữ pháp "V + M" trong tiếng Việt so với nghiên cứu của Từ Bích Diệp (2014)?
    Nghiên cứu của Từ Bích Diệp (2014) chỉ xác định M gồm 3 từ: "được", "nổi", "xuể". Luận án của Hồ Thị Nguyệt Thắng căn cứ vào ngữ liệu thực tế đã bổ sung thêm 2 thành tố quan trọng là "kịp" (biểu đạt giới hạn thời gian) và "xiết" (biểu đạt số lượng/mức độ vô cùng lớn), hoàn thiện cấu trúc M gồm 5 tiêu từ.

  4. Tại sao trợ động từ "năng" (能) trong tiếng Hán có phạm vi biểu đạt ngữ nghĩa rộng hơn "hội" (会) và "khả dĩ" (可以)?
    Theo kết quả phân tích ngữ nghĩa, "hội" chỉ đảm nhận 2 tiểu loại (Năng lực và Xác suất), "khả dĩ" chỉ đảm nhận Năng lực, Điều kiện, Chuẩn tắc và Cho phép (không biểu đạt Xác suất), trong khi "năng" có thể đảm nhận trọn vẹn cả 5 tiểu loại ngữ nghĩa: "năng 1" (Năng lực), "năng 2" (Điều kiện), "năng 3" (Xác suất), "năng 4" (Chuẩn tắc), "năng 5" (Cho phép).

  5. Ngữ liệu khảo sát thực tế của luận án được khai thác từ những nguồn nào?
    Ngữ liệu được trích xuất từ Ngữ liệu viện CCL Đại học Bắc Kinh, Ngữ liệu viện Vietlex, Từ điển cách dùng động từ tiếng Hán, Từ điển tiếng Việt, các tác phẩm văn học Trung Quốc (Phong nhũ phì đồn, AQ chính truyện, Lôi vũ) và tác phẩm văn học Việt Nam (Đất rừng phương Nam, Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao, Dế Mèn phiêu lưu ký, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh) cùng các bản dịch đối ứng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đối chiếu phương thức biểu đạt khả năng trong tiếng Hán và tiếng Việt" của tác giả Hồ Thị Nguyệt Thắng là công trình nghiên cứu chuyên sâu, mô tả hệ thống phạm trù khả năng trên cả phương diện từ vựng và ngữ pháp. Bằng việc kết hợp lý thuyết phạm trù ngữ nghĩa, lý thuyết loại hình học ngôn ngữ đơn lập, lý thuyết ba bình diện và phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu, tác giả đã làm rõ các điểm tương đồng cũng như dị biệt tinh tế giữa hai ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu không chỉ giải quyết các khoảng trống lý luận về sự phân công chức năng nội bộ của các từ năng tính và kết cấu năng tính, mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy tiếng Hán tại Việt Nam và hoạt động dịch thuật song ngữ Hán - Việt.