Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính kháng kháng sinh của neisseria meningitidis tại các ổ dịch lưu hành trong quân đội

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính kháng kháng sinh của Neisseria meningitidis trong quân đội, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống dịch.

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2015

80
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm màng não do Neisseria meningitidis

1.2. Dịch tễ học của bệnh viêm màng não

1.3. Dịch tễ học người mang mầm bệnh không triệu chứng

1.4. Đặc điểm sinh học của N.

1.4.1. Danh pháp và phân loại Não mô cầu

1.4.2. Tính chất nuôi cấy

1.4.3. Sức đề kháng

1.4.4. Những kháng nguyên quan trọng của Não mô cầu

1.5. Các kỹ thuật chẩn đoán phòng thí nghiệm

1.5.1. Kỹ thuật nhuộm soi

1.5.2. Kỹ thuật phân lập

1.5.3. Kỹ thuật điện di miễn dịch

1.5.4. Kỹ thuật ngưng kết

1.5.5. Kỹ thuật sinh học phân tử phát hiện vi khuẩn gây viêm màng não

1.5.5.1. Đặc điểm gene đích phát hiện N.
1.5.5.2. Đặc điểm gene đích (gene đặc hiệu) xác định nhóm huyết thanh của N.

1.6. Đáp ứng miễn dịch. Điều trị và dự phòng

1.7. ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.7.1. Vật liệu nghiên cứu

1.7.2. Phương pháp nghiên cứu

1.7.2.1. Phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang
1.7.2.2. Phương pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
1.7.2.3. Xử lý số liệu bằng phần mềm Epi–info

1.8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1.8.1. Đặc điểm sinh học và cơ cấu nhóm huyết thanh của Neisseria meningitidis phân lập tại một số đơn vị tân binh trong quân đội

1.8.2. Đặc điểm sinh học của chủng Neisseria meningitidis phân lập tại các đơn vị tân binh trong quân đội

1.8.3. Cơ cấu nhiễm Neisseria meningitidis và các nhóm huyết thanh của các chủng Neisseria meningitidis phân lập tại các đơn vị tân binh trong quân đội bằng phương pháp PCR

1.8.4. Khảo sát đặc điểm sinh học phân tử của các chủng N.meningitidis phân lập được bằng các cặp mồi đặc hiệu loài và nhóm N.meningitidis thông qua phản ứng PCR

1.8.5. Đánh giá sự nhậy cảm với kháng sinh của các chủng N. meningitidis nhóm huyết thanh B và C

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sinh học Neisseria meningitidis trong quân đội

Nghiên cứu về Neisseria meningitidis trong quân đội là một lĩnh vực quan trọng nhằm hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn này. Neisseria meningitidis là tác nhân chính gây ra bệnh viêm màng não, một bệnh lý nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của vi khuẩn này trong môi trường quân đội giúp xác định các yếu tố nguy cơ và phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh viêm màng não do Neisseria meningitidis

Bệnh viêm màng não do Neisseria meningitidis có sự lưu hành khác nhau trên toàn cầu. Tỷ lệ mắc bệnh thường cao hơn ở những khu vực có điều kiện sống đông đúc như quân đội. Theo thống kê, tỷ lệ người mang mầm bệnh không triệu chứng có thể lên tới 50% trong các đơn vị quân đội, điều này làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh.

1.2. Tính chất sinh học của Neisseria meningitidis

Vi khuẩn Neisseria meningitidis là một loại cầu khuẩn Gram âm, có khả năng tồn tại trong đường hô hấp của người. Chúng có thể gây ra nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não khi vượt qua hàng rào máu não. Đặc điểm sinh học của vi khuẩn này bao gồm khả năng sinh sản nhanh chóng và tính kháng kháng sinh, điều này làm cho việc điều trị trở nên khó khăn.

II. Thách thức trong việc điều trị nhiễm trùng do Neisseria meningitidis

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc điều trị nhiễm trùng do Neisseria meningitidis là tính kháng kháng sinh của vi khuẩn này. Việc kháng lại các loại kháng sinh phổ biến như penicillin và ampicillin đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong điều trị. Điều này đòi hỏi các bác sĩ và nhà nghiên cứu phải tìm kiếm các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn.

2.1. Tình trạng kháng kháng sinh của Neisseria meningitidis

Kháng kháng sinh là một vấn đề ngày càng gia tăng trong điều trị nhiễm trùng do Neisseria meningitidis. Nghiên cứu cho thấy rằng một số chủng vi khuẩn đã phát triển khả năng kháng lại nhiều loại kháng sinh, làm giảm hiệu quả điều trị và tăng nguy cơ tử vong.

2.2. Nguyên nhân dẫn đến kháng kháng sinh

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh của Neisseria meningitidis bao gồm việc sử dụng kháng sinh không hợp lý và sự lây lan của các chủng vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường quân đội. Việc hiểu rõ nguyên nhân này là cần thiết để phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu tính kháng kháng sinh của Neisseria meningitidis

Để nghiên cứu tính kháng kháng sinh của Neisseria meningitidis, các phương pháp hiện đại như PCR và phân lập vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm được áp dụng. Những phương pháp này giúp xác định nhanh chóng và chính xác các chủng vi khuẩn, từ đó đánh giá khả năng kháng thuốc của chúng.

3.1. Kỹ thuật phân lập và xác định Neisseria meningitidis

Kỹ thuật phân lập vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm là bước đầu tiên trong việc xác định sự hiện diện của Neisseria meningitidis. Các phương pháp như nuôi cấy trên môi trường thạch máu và thạch chocolate được sử dụng để phát hiện vi khuẩn này.

3.2. Phân tích tính nhạy cảm với kháng sinh

Phân tích tính nhạy cảm của các chủng Neisseria meningitidis với kháng sinh được thực hiện thông qua các phương pháp như E-test và xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC). Những kết quả này cung cấp thông tin quan trọng cho việc điều trị và phòng ngừa bệnh.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu Neisseria meningitidis trong quân đội

Nghiên cứu về Neisseria meningitidis không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về vi khuẩn này mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển vaccine phòng ngừa và các biện pháp điều trị hiệu quả. Việc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh trong quân đội.

4.1. Phát triển vaccine phòng ngừa bệnh viêm màng não

Việc phát triển vaccine phòng ngừa bệnh viêm màng não do Neisseria meningitidis là một trong những ứng dụng quan trọng từ nghiên cứu. Vaccine có thể giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và bảo vệ sức khỏe cho quân nhân.

4.2. Các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả

Các biện pháp phòng ngừa như tiêm vaccine và điều trị kịp thời bằng kháng sinh là rất cần thiết để kiểm soát dịch bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc giáo dục và nâng cao nhận thức về bệnh viêm màng não trong quân đội là rất quan trọng.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu Neisseria meningitidis

Nghiên cứu về Neisseria meningitidis trong quân đội đã chỉ ra nhiều thách thức và cơ hội trong việc kiểm soát bệnh viêm màng não. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và vaccine hiệu quả hơn, nhằm bảo vệ sức khỏe cho quân nhân và cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu liên tục

Nghiên cứu liên tục về Neisseria meningitidis là cần thiết để theo kịp với sự phát triển của vi khuẩn và tính kháng kháng sinh. Điều này sẽ giúp cải thiện các biện pháp phòng ngừa và điều trị trong tương lai.

5.2. Hướng đi mới trong nghiên cứu vaccine

Hướng đi mới trong nghiên cứu vaccine sẽ tập trung vào việc phát triển các loại vaccine đa giá, có khả năng bảo vệ chống lại nhiều nhóm huyết thanh của Neisseria meningitidis. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa bệnh viêm màng não.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính kháng kháng sinh của neisseria meningitidis tại các ổ dịch lưu hành trong quân đội

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Viêm màng não là một bệnh lý nhiễm trùng nghiêm trọng, tỷ lệ tử vong cao nếu không được nghĩ đến, không chẩn đoán và điều trị kịp thời. Sự hiểu biết về các tác nhân gây bệnh thường gặp, sẽ hỗ trợ cho công tác điều trị và xây dựng các chương trình phòng chống bệnh tật tại từng Quốc gia. Hầu hết những dữ liệu về dịch tễ của viêm màng não mủ ở người lớn đều xuất phát từ những quốc gia đã phát triển, trong đó 4 tác nhân gây bệnh thường gặp nhất là: Streptococcus pneumoniae (30%-60%), Neisseria meningitidis (13-37%), Listeria monocytogenes và Haemophilus influenzae. Neisseria meningitidis, Haemophilus influenzae type b (Hib) và Streptococcus pneumoniae là loại vi khuẩn có vỏ (polysaccharide-encapsuleated) là nguyên nhân quan trọng gây bệnh và tử vong trên thế giới [23] Hàng năm có từ 400.000 người chết do viêm màng não (WHO, 2006).

Trong thời gian cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, đã có sự chuyển đổi trong việc chẩn đoán các tác nhân sinh học, kết hợp kiểu hình và huyết thanh học với việc xác định kiểu gene bằng các kỹ thuật sinh học phân tử [39]. Phân tích tính đa dạng về tổ hợp trình tự nhiều vùng gene (MLST) là tiêu chuẩn vàng cho việc xác định các đặc điểm của vi khuẩn N. meningitidis phục vụ công tác giám sát dịch tễ học. Sự phát triển của các kỹ thuật phân tử cho phép phân tích vi khuẩn gây viêm màng não từ mẫu nuôi cấy phân lập và không phân lập để chẩn đoán xác định được ca bệnh và nó trở thành công cụ hữu ích cho nâng cao chất lượng giám sát, phát hiện và tiên lượng dịch, đây là chiến lược phòng ngừa chính ở các nước Châu âu [7].

Nhằm nâng cao chất lược, hiệu quả của việc phát hiện tác nhân trên cơ sở xác định đặc điểm về cả kiểu hình và kiểu gene của Neisseria meningitidis là hết sức quan trọng giúp tiên lượng, dự báo dịch và đề xuất phác đồ dự phòng, điều trị nhằm hạn chế được tỷ lệ nhiễm N. meningitidis, mắc bệnh 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong cộng đồng. Với đề tài nghiên cứu: “ Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính kháng kháng sinh của Neisseria meningitidis tại các ổ dịch lưu hành trong quân đội. Với mục tiêu: 1.

Xác định đặc điểm sinh học và cơ cấu nhóm huyết thanh của Neisseria meningitidis phân lập tại một số đơn vị tân binh trong quân đội. Xác định tính nhạy cảm kháng sinh của các chủng Neisseria meningitidis phân lập từ người mang mầm bệnh không triệu chứng 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm màng não do Neisseria meningitidis Năm 1884 Ettore Marchiafava và Angelo Celli lần đầu tiên quan sát được vi khuẩn trong tế bào ở dịch não tủy. Năm 1887 Anton Weichselbaum phân lập được vi khuẩn từ dịch não tủy của bệnh nhân viêm màng não do vi khuẩn và đặt tên là: Diplococcus intracellularis meningitidis.

Sau đó, năm 1901 Albrecht và Ghon đã đổi thành Neisseria meningitidis để ghi công Albert neisser- nhà khoa học người Đức. meningitidis cư trú ở đường hô hấp của người, tỷ lệ gây bệnh chiếm 1/100.000 người và tỷ lệ người mang mầm bệnh là 1/10 người. Não mô cầu tồn tại trong đường hầu họng nhờ pili gắn vào các thụ thể của người [11]. Bệnh xảy ra chỉ khi não mô cầu vượt qua biểu mô đường hô hấp để vào máu.

Chúng là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn huyết (nhiễm trùng máu) và nếu vi khuẩn vượt qua hàng rào máu não gây viêm màng não, viêm não. Khi điều trị bệnh tỷ lệ tử vong do viêm màng não chung là: 11% [28], trong đó viêm màng não đơn thuần là 5%. Hầu hết các trường hợp chết do viêm màng não có nguyên nhân từ nhiễm khuẩn huyết. Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nhưng không có hội chứng màng não có tỷ lệ tử vong là 20%, nhưng nếu kèm theo sốc thì tỷ lệ tử vong chiếm đến 50%.

Trong nhiễm khuẩn não mô cầu 15% thể viêm màng não tiến triển nhanh từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi tử vong. Khởi phát của viêm màng não kết hợp với đau họng, đau đầu, ngủ lơ mơ, sốt, kích thích, cứng gáy. Độc tố của vi khuẩn trong dịch não tủy gây viêm và gây hôn mê. Thể nhiễm khuẩn huyết biểu hiện lâm sàng như: ban xuất huyết ngoài da và không mờ đi khi làm dấu hiệu dây thắt.

Theo thống kê có 35% bệnh nhân 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiễm khuẩn huyết có biều hiện nặng như đông cục máu ở tĩnh mạnh ngoại vi, ngập hệ tuần hoàn cùng với nội độc tố, sốc và bí niệu. Trong hầu hết các trường hợp có thể xảy ra xuất huyết não và tuyến thượng thận [13]. meningitidis là vi khuẩn Gram (-), cần phải điều trị tích cực ngay bằng kháng sinh penicillin, ampicillin hoặc chloramphenicol. Nếu không điều trị tỷ lệ tử vong do bệnh viêm màng não 100%.

Sau giai đoạn cấp của viêm màng não bệnh nhân được điều trị bằng rifampin để làm sạch vi khuẩn ở hầu họng và người tiếp xúc gần với bệnh nhân cũng được điều trị dự phòng bằng rifampin [13].Dịch tễ học của bệnh viêm màng não Sự lưu hành của bệnh viêm màng não có sự khác nhau trên toàn cầu, theo mùa khí hậu, và tuổi mắc bệnh, qui mô dịch tễ học của bệnh là ranh giới của các quốc gia gần nhau thì không có sự khác biệt dịch tễ học của bệnh, cho đến nay xét về lịch sử của bệnh viêm màng não đã có 7 vụ dịch lớn mang tính chất toàn cầu và ảnh hưởng tới một số nước trong một khoảng thời gian. Viêm màng não thường xuyên bùng phát ở Cận Saharan – Châu Phi, lứa tuổi thường mắc là 8-12, tỷ lệ 500 ca bệnh/100. Dịch bùng phát ở các nước phát triển ở đại chiến thế giới lần thứ II, gồm các nước Châu Âu, Bắc Mỹ. Trong những năm 1970 dịch bùng phát ở Na Uy với cường độ tấn công là 10 ca bệnh/100.000 dân, sau đó lan truyền dọc Châu Âu bao gồm: Nước Anh và vươn ra các nước xa hơn như: Cuba, Chile và Brazil.

Năm 1987 vụ dịch giết chết nhiều người trong các lễ hành hương từ thánh địa HaJ đến Mecca và lan rộng trên toàn cầu, khi họ quay về đất nước họ [67]. Bệnh viêm màng não ở các nước phát triển nhìn chung có đặc điểm: xảy ra lác đác, không thường xuyên cùng với cường độ tấn công 1/100. Bệnh dịch bùng phát do ảnh hưởng của việc thay đổi khí hậu: Ở Châu Phi dịch bùng phát vào mùa khô, trong thời gian khí hậu đặc trưng này biểu hiện: độ ẩm, bụi, mưa rào và gió thay đổi, dẫn đến thay đổi về hành vi hoạt 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động của con người, sau các đợt gió khô, bụi ở vùng cận Saharan là đến mùa mưa. Ngược với khí hậu này ở Châu Âu và Bắc Mỹ thì tỷ lệ mắc bệnh cao trong các tháng mùa đông và thấp ở các tháng mùa thu [3].

Rất nhiều các tác nhân vi khuẩn và nhiễm virus xẩy ra trong cùng mùa, nhưng lứa tuổi là yếu tố quan trong tỷ lệ mắc bệnh viêm màng não. Bệnh viêm màng não tác động chủ yếu đến trẻ dưới 5 tuổi: đỉnh cao ở trẻ 6 tháng tuổi và suy giảm ở nhóm lứa tuổi cao hơn [3]. Ví dụ: Bệnh viêm màng não ở Mỹ, ở nhóm 1 tuổi chỉ chiếm ½ so với nhóm 4 tuổi (Centers for Disease Control and Prevention 2000), và tỷ lệ tử vong lại xảy ra đáng kể ở trẻ vị thành niên ở Mỹ và Anh là tương đương.Dịch tễ học người mang mầm bệnh không triệu chứng Người mang mầm bệnh không triệu chứng cao hơn tỷ lệ mắc bệnh. Tỷ lệ người mang ở Mỹ và Châu Âu khoảng 10% 7],[10], cao gấp 10.000 lần tỷ lệ mắc bệnh.

Tuy nhiên trong nhà khép kín hoặc một cộng đồng sinh hoạt khép kín thì tỷ lệ mang mầm bệnh còn cao hơn: các đơn vị quân đội, trường học, nhà tù thì tỷ lệ người mang mầm bệnh có thể đạt 50% [3]. Mô hình người mang mầm bệnh liên quan tới cường độ bệnh, phân vùng địa lý, ảnh hưởng của khí hậu và lứa tuổi cảm nhiễm. Mùa viêm màng não ở Châu Á và Châu Phi thường xuất hiện liên quan tới sự thay đổi mùa khí hậu đã được báo cáo ở Nigeria và India [2] [5]. Tương tự như vậy, tỷ lệ người mang mầm bệnh trong vùng khí hậu ôn đới thường không xuất hiện theo sự thay đổi mùa đã được nghiên cứu ở Bỉ và Mỹ [4]; Hà Lan, tỷ lệ người mang mầm bệnh cao phản ánh nguy cơ dịch lớn, có thể lên tới 70% trong một số bệnh gây dịch.

Tuổi mắc mang mầm bệnh ở Anh, năm 1986[6] có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi : thấp ở lứa tuổi nhỏ và trẻ vị thành niên và cao đến 25% ở lứa tuổi từ 13-19 tuổi và từ 20-29 tuổi. Sự tương phản đầu tiên quan sát thấy là tỷ lệ tử vong cao ở trẻ dưới 5 tuổi và thấp hơn là tỷ lệ mang N. lactamica cao ở tuổi ẵm ngửa [14]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đặc điểm sinh học của N.Danh pháp và phân loại Não mô cầu [32] Danh pháp khoa học Giới (Kingdom): Bacteria Họ (Family): Neisseriaceae Ngành (Phylum): Proteobacteria Chi (Genus): Nesseria Lớp (Class): Beta Proteobacteria Loài (Species): N. meningitidis Bộ (Ordo): Neisseriales Nhóm huyết thanh: A, B, C, D, 29E, H, I,L,W135,X,Y,Z Tên gọi não mô cầu theo danh pháp quốc tế: Neisseria meningitidis. Đặc điểm sinh học của Neisseria meningitidis Chi Loài đặc trƣng Nhuộm Hình thể Tạo vỏ Sắp Di Hô Môi Trong/ ngoài Gram xếp động hấp trƣờng tế bào phát triển Neiss N. gonorrhoeae Gram (-) Hình hạt Tạo vỏ Phế Không Hiếu Thayer- Gonococcus: eria N.

meningitidis cà phê, hoặc cầu di khí Martin trong tế bào- hai mặt không khuẩn động N.meningitidis: dẹt đối ngoại bào xứng nhau Não mô cầu là cầu khuẩn Gram âm, kích thước thay đổi, có thể thấy ở dạng đơn độc hoặc song cầu hình hạt cà phê với hai mặt dẹt đối diện nhau và có thể nằm trong hoặc ngoài bạch cầu đa nhân, không lông, không sinh bào tử, đa số các chủng đều có vỏ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Hình ảnh nhuộm Gram N. meningitidis từ dịch não tủy[63]. Tính chất nuôi cấy Tính chất nuôi cấy Não mô cầu là vi khuẩn hiếu khí, phát triển ở môi trường có 5% thạch máu, thạch Thayer-Martin cải tiến hoặc môi trường chocolate, ở nhiệt độ 35- 370C, khí trường 5-7% CO2.

Trên thạch máu, khuẩn lạc nhỏ, tròn, mờ đục, lồi, màu hơi trắng xám, không tan máu, đường kính 1- 3 mm. Khi dùng que cấy đẩy, khuẩn lạc trượt dễ dàng trên mặt thạch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ