CHƯƠNG 1. Giới thiệu về thanh long LAL. TÔng quan Thanh long (Dragon fruit hay Pitaya) [1], [2]: Loai: Hylocereus polyrhizus (giỗng ruột đỏ, vỏ hồng hoặc đỏ), hoặc Hylocereus undatus (giéng ruột trang, vỏ hồng hoặc đỏ) hoặc Hylocereus megalanthus (giỗng ruột trang, vỏ vàng). Chi: Hylocereus Ho: Cactaceae Caryophyllales CHỚI: Hình 1.
Hylocereus undatus (giống ruột trang, vỏ hông hoặc do) [1] Hình 1. Hylocereus megalanthus (giống ruột trắng, vỏ vàng) [1] Thanh long là cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, chịu hạn giỏi nên được trồng Ở những vùng nóng. Một số loài chịu được nhiệt độ 50 + 55°C, nhưng không chịu được lạnh. Chúng thích hợp khi trồng ở những vùng có ánh sáng mạnh.
ngược lại chúng sẽ ốm yếu và lâu cho quả. Cây mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như xám bạc mảu (Bình Thuận), đất phèn (TP. HCM), đất đỏ latosol (Long Khánh). Thanh long có 2 vụ: vụ mùa (từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch), và trái vụ (từ tháng 9 đến tháng 2 âm lịch năm sau, phải chong đèn cho cây ra trai).
Thanh long đã có từ rất lâu nhưng chỉ mới biết đến rộng rãi trên thị trường thế giới trong những thập niên gan đây. Các giống thanh long phố biến hiện nay là thanh long ruột trắng (nhiều nhất), ruột đỏ va gần đây nhất là ruột tím hồng. Nhờ mau sắc và vị ngọt của thanh long đỏ nên chúng rất được ưa chuộng tại thị trường cả trong và ngoài nước (châu Á, Mỹ). Viện Cây ăn quả Miền Nam cũng lai tạo thành công giống thanh long Long Dinh 5 (LD 5) có vỏ đỏ va ruột tim hồng với nhiều tinh năng ưu việt như năng suất cao, chất lượng tốt, ít nhiễm côn trùng, bệnh hại và đặc biệt có màu sắc đẹp.
Tuy nhiên đến năm 2012 giống này mới được đưa vào sản xuất [3]. Giống thanh long ruột tim hong LD 5 Thanh long được tiêu thụ chủ yếu ở dạng trái tươi. Nhờ có lượng chất chống oxy hóa lycopen và vitamin C cao, nhiều xơ, nhiều nước, thanh long được tin là có rat nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe như giúp kiểm soát đường máu (dành cho người tiểu đường), bố gan, giảm nguy cơ cao huyết áp, chữa béo phì, chữa bệnh đường ruột. Bởi vậy, thanh long ngày càng được tận dụng trong nhiều sản phẩm thương mại khác như thực phẩm dinh dưỡng, mỹ phẩm dưỡng da, dầu gội đầu, son môi, v.
Ngoài ra, thanh long có thể được bán dưới dạng phơi khô, nước ép, sản phẩm tinh luyện, bột, kẹo jelly, rượu hay các sản phẩm dinh dưỡng khác.1 Thành phan dinh dưỡng có trong 100g thịt qua thanh long do tươi [4] Thành phần dinh dưỡng Thanh long đỏ Malaysia Thanh long Úc Năng lượng (kcal) 62,95 35,36 Độ âm (g) 85,05 89,98 Tro (g) 0,54 1,19 Carbohydrates (g) 12,97 8,42 Protein (g) 1,45 0,41 Chat béo (g) Khong phat hién Khong phat hién Xo thực phẩm (g) 2,65 Không phát hiện Sắt (mg) 0,3 0,03 Magne (mg) 26,40 13,7 Kali (mg) 258,29 437,35 Natri (mg) 35,63 14,30 Kém (mg) 0,40 0,09 Calci (mg) 6,72 1,55 Vitamin A (ug) 85,22 890,8 Vitamin C (ug) 24,66 30,21 Đặc điểm thanh long đỏ Binh Thuận: e Trái thanh long có dạng hơi tròn, day vỏ 1 + 2,5cm, gai nở to, vỏ có màu đẹp e Tỷ lệ thị quả: 57 + 72ow/Ww e Ty lệ hat/thit quả: 10 + 159ow/w e Chắc thịt, vị ngọt hơi chua e Do Brix: 14+ I7% e Độ chua pH = 4,3 = 4,7 1. Phan loại Thong thường thanh long được phân loại dựa vào kinh nghiệm, chu yếu dựa vào hình dáng, màu sac, kích cỡ, độ tươi, độ ngọt để đánh giá chất lượng. Trong đó, hình dáng bên ngoai và kích cỡ là hai yếu tô quan trọng nhất. Có 3 mức độ phân loại chính: (1) Loại đạt mức độ xuất khâu: quả nặng khoảng từ 300g = Ikg, trái đều, tươi, căng tròn, bóng đẹp, còn đủ gai, màu đỏ đều, không bị xù xì, không bị sâu.
Tùy theo nước xuât khâu mà yêu câu về trọng lượng khác nhau: - Các nước chau A: phan lớn chuộng trái lớn (500g + 700g). Riêng Singapore yêu cầu về trọng lượng lớn/nhỏ là 50/50. - Các nước châu Âu: thường nhập trái nhỏ hơn 700g (nhiều nhất là 300g + 500g). Giá xuất trung bình cao nhất so với các khu vực khác.
Các yêu câu khác giống như loại ở Hà Nội. Giá bán thấp hơn khu vực Hà Nội. (3) Loại dạt: là những quả còn lại, hoặc nhỏ dưới 300g, hoặc lớn nhưng không đạt tham mỹ (mất gai, không tươi. Giá bán sỉ từ 1000 + 1500 đồng/kg (vào vụ mùa) và khoảng 3000 + 7000 đồng/kg (trái vu).
Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trong và ngoài nước 1. Cac nguôn cung cap thanh! long trong ca HHƯỚC Trong những năm gan đây, thanh long xuất khẩu ra nhiều nước trên thé giới với số lượng ngày càng tăng đã thúc đây nhanh việc phát triển sản xuất và tiêu thụ thanh long trên cả nước. Sản lượng thanh long của Việt Nam tăng lên qua từng năm, trong đó, Bình Thuận đứng dau (76,9%), kế đến là Tiền Giang (10,9%) và sau cùng là Long An (8. Ngoài ra, Tây Ninh, Đồng Nai, Cà Mau, và một số tỉnh phía Bắc như Hà Nội và các tỉnh miền núi phía Bắc cũng đã trồng thanh long nhưng quy mô nhỏ, chưa nhiều.
Ở Đồng băng sông Cửu Long, thanh long xếp thứ 8 trong 11 loại trái cây chủ lực được Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn quy hoạch phát triển bền vững đến nam 2020 [5]. Diện tích va san lượng thanh long Binh Thuan từ năm 2009 + 2013 [6] Nam 2009 2010 2011 2012 2013 Dién tich dat trong (ha) 11.551 Dién tich thu hoach (ha) 9.184 Sản lượng tổng (tan) 258.800 Sản lượng xuat khau (tan) 26.917 Lượng xuất khẩu (%) 10,28 10,52 9.000 961525 31491 30/328 951917 San lượng tông s”=s Sản lượng xuât khâu w= Dién tích dat trông == Dién tích thu hoạch Hình 1. Diện tích và san lượng thanh long Binh Thuận tu nam 2009-2013 [6| Diện tích đất trồng và thu hoạch thanh long ở tỉnh Bình Thuận tăng theo từng năm, cụ thể trong 5 năm từ năm 2009 đến 2013, diện tích trồng thanh long tăng gấp đôi. Tính đến đầu năm 2015, diện tích đất trồng thanh long cả nước là 28.700 ha, diện tích thu hoạch là 23.820 ha, sản lượng thanh long cả nước ước tính là 520.
Riêng tỉnh Binh Thuận diện tích trồng 21.000 ha, ước tinh sản lượng là 400. Ở Bình Thuận cũng đã tiễn hành quy hoạch sản xuất và đóng gói thanh long sạch, xây dựng bảo vệ thương hiệu và hướng đến phát triển thị trường bền vững. Đồng thời, ở đây cũng áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, Global Gap và EurepGAP. Giá cả thanh long cũng phụ thuộc rất nhiều vảo thị trường xuất khẩu.
Có những thị trường tìm đến để mua được nhiều thanh long ví dụ như thị trường Trung Quốc, bù lại giá thường rẻ hơn nhiều đặc biệt vào đúng vụ; có thi trường. tuy lượng bán còn khiêm tốn, nhưng giá cả lại tốt hơn, đồng thời dé khang định “đăng cấp” của sản phẩm và doanh nghiệp, từ đó có điều kiện cạnh tranh tốt hơn. Ngoài ra, giá của thanh long còn phụ thuộc vào uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp cung cấp. Một số sản phẩm khúc từ thanh long có mat trén thi trwong Hình 1.
San phẩm rượu thanh long của công ty CNTP Nhật Hong Hình 1. Sản phẩm nước thanh long ép của công ty Rông Xanh Hình Lổ. San phẩm bánh thanh long và mật ong chống táo bón của Herbal (A) và sản phẩm nước chống oxy hóa từ thanh long của Bai5 (B) 1. Kết luận Việt Nam tuy là nước xuất khẩu thanh long hàng đầu trên thế giới, có nhiều tiềm năng cũng như lợi thế hơn một số nước khác, nhưng với diện tích trồng trọt và sản lượng hiện nay cho thay lượng cung van còn lớn hơn nhiều so với lượng cầu.
Thêm vào đó, chất lượng và giá cả thanh long Việt Nam vẫn là trở ngại của nhiều nông dân do tại thời điểm thanh long xuống giá, người nông dân không đủ chỉ phí để trả công cắt và chi phí phân bón, nước. Thậm chí, số thanh long này được làm thức ăn cho bò. Thanh long loại “hàng dạt”, tức trái nhỏ hoặc gãy tai hoặc có vết nứt bề mặt không đạt chất lượng của thanh long xuất khẩu, tuy nhiên chất lượng trái vẫn tương đương với hàng tốt. Theo nông dân, số lượng thanh long “hàng dạt” tại vườn trung bình chiếm khoảng 50% số thanh long thu hoạch, lúc này thanh long đủ tiêu chuẩn sẽ được các vựa (thương lái) thu mua về.
Sau đó, thanh long lại tiếp tục được tuyến lựa lại lần nữa trước khi xuất khẩu, lúc nay, tỷ lệ “hang dạt” thanh long trắng khoảng 10 + 20%, nhưng với thanh long đỏ thì ty lệ này là 40 + 50% do trái thanh long đỏ mềm, gai yếu và mau héo hơn thanh long trăng. “Hàng dạt” được bán với giá cũng tương đối thấp (bằng 20 ~ 40% giá thanh long tốt). Thêm vào đó, số lượng thanh long “hàng dạt” lại chiếm một số lượng khá lớn. Chất màu betalain 1.
Giới thiệu Betalain là nhóm chất màu có chứa nitơ, tan trong nước, được chia thành 2 nhóm chính [7], [8], [9]. [I0]: ¢ Betacyanin (màu đỏ tím): gồm betanin, isobetanin, probetanin và neobetanin. ¢ Betaxanthin (màu vàng cam): gồm miraxanthin, portulaxanthin, indicaxanthin và vulgaxanthin. nO NN OR, Í | —=COCH H Ry HOOK N OOH HOOC N” OOH HOOC” N OOF H H (a) (b) (c) Hình 1.
Cau trúc phân tử của acid betalamic (a), betacyanin (b) với Ri = Ra = H la betanin va betaxanthin (c) với Ra la nhóm aminoacid hoặc amin [TT] Betalain có mặt trong rễ, quả va hoa các loài cây [11], nguồn betalain chủ yếu trong củ dén, quả xương rồng (cactus pear), thanh long (Hylocereus) và chúng thường được nghiên cứu dé sản xuất chất màu thực phẩm [12]. Độ hap thu của betalain nam trong vùng bước sóng từ 476 + 600nm, trong đó hap thu cực đại tại 537nm ở pH 5,0 [9]. Betalain được tong hop từ tyrosine bang cách ngưng tu acid betalamic (trung tâm của betalain) với một dẫn xuất của dihydroxyphenylalanine (DOPA), hình thành betacyanin có mau từ đỏ đến tím. Bên cạnh đó, sự ngưng tụ của acid betalamic với một aminoacid (ví dụ Ser, Val, Leu, Iso và Phe) hoặc dẫn xuất của aminoacid (ví dụ 3-methoxytyramine) sẽ tạo nên betaxanthin có mau từ vàng đến cam [7].
Cấu trúc vòng cyclo-DOPA [13] 10 Enzyme tyrosinase hay polyphenoloxidase (monophenol, o-diphenol: oxy oxidoreductase; EC.1) xúc tác đồng thời hai phản ứng khác nhau. Chúng không chỉ tham gia vào quá trình hình thành lõi của acid betalamic (chuyển tyrosine thành DOPA) nhờ hoạt động của monophenolase, mà chúng còn oxy hóa DOPA tạo thành dopaquinone (nhờ hoạt động của diphenolase), góp phần sinh tổng hợp các cyclo-DOPA, và khi các cyclo-DOPA kết hợp với acid betalamic sẽ tạo nên nhóm màu betacyanin, betanidin [7|.