PHẦN MỞ ĐẦU Tên đề tài/dự án: NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÓ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TỪ CÁM GẠO ĐÃ TÁCH LIPID Chủ nhiệm đề tài/dự án: GS. LÊ VĂN VIỆT MẪN Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Bách Khoa Thời gian đăng ký trong hợp đồng: 24 tháng (11/2015 đến 11/2017) Tổng kinh phí được duyệt: 850 triệu đồng (trong đó NSNN: 750 triệu đồng) Kinh phí đã cấp: 675 triệu đồng (Theo thông báo số: 241 /TB-KHCN ngày 03/11/2015) 1. Mục tiêu tổng quát: Tận dụng nguồn phụ phẩm sẵn có trong nước (cám gạo đã tách lipid) để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế cho ngành nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm. Mục tiêu cụ thể: Xây dựng quy trình tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng từ cám gạo đã tách lipid: bánh quy giàu chất xơ và chế phẩm protein đậm đặc.
Nội dung Nội dung 1: Tạo sản phẩm bánh quy giàu chất xơ từ cám gạo tách lipid 1. Thử nghiệm thay thế một phần bột mì bằng cám gạo (chưa qua xử lý enzyme) để tạo sản phẩm bánh quy giàu chất xơ 1. Xác định điều kiện xử lý cám gạo bằng phương pháp enzyme 1. Thử nghiệm thay thế một phần bột mì bằng cám gạo đã qua xử lý enzyme để tạo sản phẩm bánh quy giàu chất xơ 1.
Hoàn thiện quy trình sản xuất bánh quy giàu xơ 1. Xác định chỉ số đường huyết của sản phẩm bánh quy giàu xơ Nội dung 2: Thu nhận và ứng dụng chế phẩm protein đậm đặc chứa hỗn hợp albumin và globulin từ cám gạo đã tách lipid 2. Xác định điều kiện trích ly có hỗ trợ của sóng siêu âm và/hoặc chế phẩm enzyme để thu nhận hỗn hợp albumin và globulin từ cám gạo. Xác định các tính chất chức năng của chế phẩm protein đậm đặc đã thu được 1 2.
Thử nghiệm tạo thực phẩm dạng nhũ tương với chế phẩm protein đậm đặc từ cám gạo Tiến độ thực hiện đề tài Dự kiến hoàn Tiến độ TT Nội dung thực hiện thành hoàn thành Thử nghiệm thay thế một phần bột mì bằng 1 cám gạo (chưa qua xử lý enzyme) để tạo Tháng 1/2016 100% sản phẩm bánh quy giàu chất xơ Xác định điều kiện xử lý cám gạo bằng 2 Tháng 3/2016 100% phương pháp enzyme Thử nghiệm thay thế một phần bột mì bằng 3 cám gạo đã qua xử lý enzyme để tạo sản Tháng 05/2016 100% phẩm bánh quy giàu chất xơ Hoàn thiện quy trình sản xuất bánh quy giàu 4 Tháng 10/2016 100% xơ ở quy mô phòng thí nghiệm Xác định điều kiện trích ly có hỗ trợ của sóng siêu âm hoặc chế phẩm enzyme để 5 Tháng 10/2016 100% thu nhận hỗn hợp albumin và globulin từ cám gạo. 6 Giám định đề tài Tháng 10/2016 100% Hoàn thiện quy trình sản xuất bánh quy 7 Tháng 2/2017 100% giàu xơ ở quy mô nhà máy Xác định chỉ số đường huyết cho mẫu sản 8 Tháng 3/2017 100% phẩm bánh quy giàu xơ Xác định điều kiện trích ly sử dụng kết hợp sóng siêu âm và chế phẩm enzyme để thu 9 Tháng 12/2016 100% nhận hỗn hợp albumin và globulin từ cám gạo. Xác định các tính chất chức năng của chế 10 Tháng 4/2017 100% phẩm protein đậm đặc đã thu được Thử nghiệm tạo thực phẩm dạng nhũ 11 tương với chế phẩm protein đậm đặc từ Tháng 6/2017 100% cám gạo Viết và hoàn chỉnh báo cáo đề tài (bao gồm 12 Tháng 8/2017 100% báo cáo chính và báo cáo tóm tắt) 13 Nghiệm thu đề tài cấp cơ sở Tháng 10/2017 100% 14 Nghiệm thu đề tài cấp thành phố Tháng 10/2017 100% 2 Những nội dung không có đăng ký trong hợp đồng nhưng đã thực hiện Ảnh hưởng của tỉ lệ đường isomalt sử dụng đến chất lượng bánh quy Ảnh hưởng của kích thước hạt cám gạo đến chất lượng bánh quy Sản phẩm của đề tài Dạng kết quả I Tên sản phẩm Số Chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật Thực TT lượng tế đạt được Bánh quy giàu chất xơ -Mẫu 1: Sử dụng phụ liệu là cám Các chỉ tiêu vi sinh và cảm quan đạt gạo đã tách lipid và chưa qua xử 5kg yêu cầu theo TCVN 5909-1995. Sản phẩm có chỉ số đường huyết ở 100% -Mẫu 2: Sử dụng phụ liệu là cám mức trung bình.
gạo đã tách lipid và đã qua xử lý 5kg enzyme Các chỉ tiêu hóa lý và vi sinh tương tự như chế phẩm protein đậm đặc từ đậu nành (Độ ẩm: max 8%, protein: min 70%, tổng vi sinh vật hiếu khí: Chế phẩm protein đậm đặc từ 1,5x104cfu/g, Salmonella: không 2 cám gạo 1kg 100% có; E. coli: không có) Các số liệu về khả năng hấp thu nước và dầu, khả năng nhũ hóa, khả năng tạo bọt, khả năng tạo gel của chế phẩm. Dạng kết quả II Tên tài liệu Số Ghi chú Thực T lượng tế đạt T được Quy trình gồm có: Quy trình công nghệ sản xuất Các công đoạn chế biến với yêu cầu bánh quy giàu xơ: sử dụng phụ về thiết bị và thông số công nghệ 1 1 100% liệu cám gạo đã tách lipid và chưa qua xử lý enzyme Công thức phối trộn nguyên liệu Hiệu suất thu hồi sản phẩm Quy trình công nghệ sản xuất Quy trình gồm có: bánh quy giàu xơ: sử dụng phụ Các công đoạn chế biến với yêu cầu 2 liệu cám gạo đã tách lipid và đã 1 về thiết bị và thông số công nghệ 100% qua xử lý enzyme Công thức phối trộn nguyên liệu Hiệu suất thu hồi sản phẩm Phương pháp trích ly protein Phương pháp trích ly protein với yêu 3 (hỗn hợp albumin và globulin) 1 cầu về thiết bị và các thông số công 100% từ cám gạo đã tách lipid nghệ, hiệu suất trích ly protein 3 Dạng kết quả III và IV T Tên tài liệu Số lượng Ghi chú Thực tế đạt được T Báo cáo tổng hợp Báo cáo rõ ràng và đầy đủ nội dung, đạt 1 (báo cáo chính, báo 1 100% mục tiêu đã đề xuất cáo tóm tắt, CD) 2 bài đăng trên tạp chí chuyên ngành trong nước Vượt chỉ tiêu 1 2 Bài báo 3 1 bài được được chấp nhận đăng trên tạp bài trong nước chí chuyên ngành ngoài nước 3 Giải pháp hữu ích 1 Đơn đăng ký giải pháp hữu ích 100% 4 sinh viên bảo vệ thành công luận văn Đào tạo đại học và 4 6 người đại học và 2 học viên bảo vệ thành công 100% sau đại học thạc sĩ ngành Công nghệ thực phẩm 4 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sản lượng cám gạo và tiềm năng sử dụng cám gạo tách lipid (Defatted rice bran) tại Việt Nam Theo số liệu thống kê của Food outlook, trong năm 2014 Việt nam là quốc gia đứng thứ năm về sản xuất lúa gạo.
Cùng với Thái lan và Ấn độ, Việt nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Riêng trong niên vụ 2013/2014, Việt Nam thu hoạch được 29,4 triệu tấn lúa và xuất khẩu khoảng 6,7 triệu tấn gạo [1]. Một trong các phụ phẩm quan trọng nhất của ngành công nghiệp xay xát lúa gạo là cám gạo, chiếm khoảng 8% khối lượng hạt thóc. Các số liệu thống kê ở trên cho thấy lượng cám gạo được sinh ra từ quy trình xay xát lúa gạo hàng năm ở nước ta là rất cao.
Theo số liệu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Cám vàng, chỉ riêng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, mỗi năm thu nhận khoảng 2 triệu tấn cám gạo. Lượng cám gạo này chủ yếu được dùng để sản xuất thức ăn cho gia súc và thủy sản [2]. Trong hạt thóc, phần lớn lượng lipid, protein, khoáng, vitamin, chất xơ có khả năng tiêu hóa… được tìm thấy chủ yếu trong cám gạo. Hàm lượng các chất dinh dưỡng theo khối lượng cám ước tính khoảng 18 - 20% lipid, 12 – 14% protein, 20 – 22% tinh bột, 18 – 20% xơ [3].
Cám gạo rất giàu các chất khoáng (như K, P, Mg…) và vitamin (đặc biệt là vitamin nhóm B) [4]. Ngoài ra, cám gạo cũng chứa nhiều hoạt chất có khả năng chống oxy hóa cao như phenolic (2,2–3,2 mg/g cám gạo), flavonoid (0,03–0,10 mg/g), gamma-oryzanol (0,56–1,08 mg/g), tocopherol (0,35–0,77 mg/g) và tocotrienol (0,22–0,46 mg/g) [5, 6]. Tuy nhiên, do chứa hàm lượng các acid béo không no khá cao nên cám gạo dễ bị oxy hóa, từ đó chất lượng dinh dưỡng và cảm quan bị giảm nhanh. Ở nhiệt độ phòng, thời gian bảo quản cám gạo mới xay xát thông thường là 1 tuần [7].
Trước đây, một số hộ nông dân nhỏ lẻ phải rang hoặc phơi cám để kéo dài thời gian bảo quản cám. Những nhà máy sản xuất thức ăn gia súc quy mô lớn thường tiến hành sấy cám dù phương pháp này tốn nhiều năng lượng; tuy nhiên thời gian bảo quản cám chỉ được tối đa từ 1 đến 3 tháng. Phương pháp hiệu quả nhất nhằm hạn chế quá trình ôi dầu và nâng cao giá trị sử dụng cám gạo là trích ly dầu cám bằng dung môi hexan để sử dụng sản xuất dầu tinh luyện. Đến nay, Công ty trách nhiệm hữu hạn Cám vàng có dây chuyền công nghệ hiện đại trích ly dầu cám tại Việt Nam với năng suất xấp xỉ 500 tấn nguyên liệu/ngày.
Lượng dầu này sẽ được cung cấp cho Công ty dầu thực vật Cái Lân để tiếp tục sản xuất thành dầu tinh luyện. Giả sử như lượng dầu trong cám là 20% và chúng ta có thể trích ly kiệt được phần dầu này thì lượng cám tách lipid thu được mỗi ngày tại nhà 5 máy sẽ là 400 tấn. Phần cám này hiện được sử dụng làm thức ăn gia súc và được thương mại hóa với hai nhãn hiệu “Cám vàng” và “Kim trư” [2]. Như vậy, chúng ta cần có những nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng nguồn cám gạo đã qua tách lipid sẵn có ở nước ta.
Khả năng sử dụng cám tách lipid làm nguồn nguyên liệu thực phẩm Trên thế giới, các nghiên cứu sử dụng cám gạo đã tách lipid để chế biến thành nhiều loại thực phẩm khác nhau được thực hiện chủ yếu ở châu Á như Nhật bản, Trung quốc, Ấn độ, Thái lan. Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu ở nước ngoài. Bổ sung trực tiếp cám gạo đã tách lipid vào thực phẩm để tăng lượng xơ, khoáng và vitamin Các sản phẩm đã được nghiên cứu và sản xuất để thương mại hóa bao gồm bánh mì, bánh bích quy, bánh muffin, bánh cake, bánh snack [8-12], chapatti [13]… Kết quả các nghiên cứu trên cho thấy: khi bổ sung cám vào bánh sẽ làm giảm độ nở của bánh do hàm lượng chất xơ trong bánh tăng cao. Các nhà nghiên cứu cho rằng lượng cám tối đa có thể bổ sung vào bánh thường nhỏ hơn 15%.