MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Bệnh sán lá gan lớn gây nên bởi các loài sán lá Fasciola spp., phổ biến là 2 loài Fasciola hepatica Linnaeus, 1758và Fasciola giganticaCobbold, 1855, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe gia súc và gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi.Hơn thế nữa, sán lá gan còn gây bệnh cho người.Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) bệnh sán lá gan lớn là một trong những vấn đề y tế quan trọng và luôn được quan tâm nghiên cứu. Người và động vật nhiễm bệnh sán lá gan lớn do ăn phải rau, cỏ hoặc uống nước lã có chứa ấu trùng cảm nhiễm metacercaria. Sán trưởng thành ký sinh ở gan vật chủ, gây tổn thương chủ yếu ở gan, nhưng cũng có thể gây tổn thương ngoài gan khi ký sinh lạc chỗ (Dalton 1999).
Trong vòng đời phát triển của sán lá gan lớn, trứng được thải ở gan vật chủ, theo ống dẫn mật xuống ruột và ra môi trường cùng với phân. Gặp điều kiện thuận lợi, trứng phát triển và nở ra thành ấu trùng miracidium.Miracidium bơi trong nước, tìm vật chủ trung gian thích hợp để xâm nhập và phát triển thành các giai đoạn ấu trùng sporocyst, redia và cercaria.Cercaria trưởng thành thoát khỏi ốc, rụng đuôi hoá nang bám vào thực vật thuỷ sinh hoặc trôi nổi trong nước. Khi vật chủ chính ăn phải thực vật thuỷ sinh hoặc uống nước có chứa metacercaria của sán lá gan lớn thì chúng phát triển thành con trưởng thành ký sinh ở gan. Vật chủ trung gian thích hợp của sán lá gan lớn là ốc nước ngọt, thường là ốc thuộc họ Lymnaeidae.Tuy nhiên, ốc vật chủ trung gian của các loài sán lá gan lớn, thậm chí của cùng một loài ở các vùng địa lý khác nhau có thể là những loài ốc khác nhau (Dalton 1999).Vì vậy, việc xác định chính xác vật chủ trung gian của sán lá gan lớn rất quan trọng trong việc phòng chống bệnh sán lá gan lớn cho gia súc và người.
1 Ở Việt Nam, số ca bệnh mắc sán lá gan lớn ở người trong những năm gần đây tăng đáng kể, đặc biệt là ở miền Trung và miền Nam (Trần Vinh Hiển và CS. 2006; Triệu Nguyên Trung và CS.Vì vậy, sán lá gan lớn và bệnh sán lá gan lớn ở nước ta được đặc biệt quan tâm nghiên cứu.Tuy nhiên, nhiều vấn đề về định loại hình thái, phân tử và vật chủ trung gian chưa thống nhất. Các thông báo trước đây cho rằng ở Việt Nam tồn tại cả 2 loài sán lá gan lớn, trong khi những nghiên cứu về phân tử gần đây chỉ phát hiện một loài F. gigatica và dạng lai (Lê Thanh Hòa và cs.
2002; Nguyễn Văn Đề 2003; Lê Quang Hưng và cs. 2003; Đặng Tất Thế và cs. 2003; Nguyễn Văn Khá 2005; Trần Vinh Hiển và cs. 2006; Nguyễn Văn Đề và cs.
2006; Le et al. 2007; Periago et al. 2006; Nguyen et al. 2009; Nguyen et al.
Một số nghiên cứu cho thấy 2 loài ốc Lymnaea viridis và Lymnaea swinhoei là vật chủ trung gian của sán lá gan lớn (Phan Địch Lân 1985; Nguyễn Trọng Kim 1997; Nguyễn Trọng Kim và cs. 1997; Lê Hữu Khương và cs. 2001; Vũ Sĩ Nhàn và cs. 1989; Hồ Thị Nhuận và Nguyễn Ngọc Phương 1987), trong khi một số tác giả khác chỉ tìm thấy ấu trùng sán lá gan lớn ở ốc L.
viridis (Phạm Ngọc Doanh và Nguyễn Thị Lê 2005;Phạm Ngọc Doanh và cs. 2012; Dung et al. Để làm sáng tỏ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái, phân tử và sinh học của sán lá gan lớn Fasciola spp. Mục tiêu của đề tài: Làm sáng tỏ đặc điểm phân loại và sinh học của sán lá gan lớn Fasciola spp.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: - Cung cấp dẫn liệu chính xác về phân loại và đặc điểm sinh học của sán lá gan lớn ở Việt Nam. - Tạo cơ sở khoa học cho công tác phòng chống sán lá gan lớn một cách hiệu quả, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Những điểm mới của luận văn 2 - Xác định chính xác sán lá gan lớn ở Việt Nam là loài F. gigantica và có các cá thể lai hoặc chuyển gen giữa 2 loài F.
- Xác định khả năng sống của trứng sán lá gan trong các dung dịch nồng độ muối khác nhau, điều kiện nhiệt độ khác nhau. - Xác định thời điểm nở trong ngày, đặc điểm bơi, độ sâu ưa thích và thời gian sống của miracidium. - Khẳng định chỉ có loài ốc A. viridis bị nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn F.
viridis) ở Việt Nam, còn loài R. swinhoei) không bị nhiễm. - Xác định ảnh hưởng của nồng độ muối đến sức sống của metacercaria, đưa ra nồng độ muối thích hợp nhất để rửa sau sống an toàn là 2% ngâm trong 15 phút. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái quát chung về đặc điểm hình thái và vòng đời phát triển của sán lá gan lớn Fasciola spp. Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của sán lá gan lớn Vị trí phân loại của sán lá gan lớn như sau: Ngành (Phylum): Platyhelminthes Schneider, 173 Lớp (Class): Trematoda Rudolphi, 1808 Bộ (Order): Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1935 Họ (family): Fasciolidae Railliet, 1895 Giống (Genus): Fasciola Linnaeus, 1758 Loài (species): F. gigantica Sán trưởng thành có kích thước lớn, hình lá dẹt (hình 1.Khi còn sống cơ thể màu nâu đỏ. Phần đầu có dạng hình nón, có giác miệng, tiếp theo là hầu, ruột phân nhánh chạy dọc từ trước ra sau cơ thể.
Hai tinh hoàn phân nhánh và nằm ở phần giữa cơ thể.Buồng trứng phân nhánh, nằm ngay phía trước tinh hoàn.Tử cung đổ vào lỗ sinh dục nằm ở vùng giác bụng. Hình thể sán lá gan lớn trƣởng thành ( A: F. hepatica) Hai loài sán lá gan F. gigantica khác nhau về kích thước và hình dạng cơ thể.
hepatica ngắn hơn và rộng hơn, trong khi loài F. 4 gigantica dài hơn và hẹp hơn.Ngoài ra loài F. hepatica có phần đầu rộng hơn, làm thành bờ vai, còn loài F. gigantica thuôn hơn (Dalton et al.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp rất khó phân biệt 2 loài này về mặt hình thái.
Vòng đời phát triển của sán lá gan lớn Trong vòng đời phát triển, sán lá gan lớn trải qua 5 giai đoạn (hình 1.2), bao gồm: Giai đoạn trứng được thải khỏi vật chủ ra môi trường ngoài: Trứng sán lá gan lớn được bài tiết theo phân vật chủ ra ngoài môi trường. Trong môi trường nước, trứng phát triển thành ấu trùng miracidium. Giai đoạn miracidium tìm kiếm và xâm nhập vào vật chủ trung gian: Trong môi trường nước, miracidium tìm kiếm vật chủ ốc thích hợp để xâm nhập vào vật chủ, chủ yếu là ốc Lymnaea. Giai đoạn phát triển và tăng sinh số lượng trong cơ thể ốc: Trong cơ thể ốc, ấu trùng sán phát triển qua các giai đoạn sporocyt, redia mẹ, redia con, và cuối cùng là cercaria.
Giai đoạn cercaria thoát khỏi ốc và hoá nang: Sau khi rời khỏi ốc, cercaria bơi trong nước và hóa nang thành metacercaria bám vào bề mặt thực vật thuỷ sinh. Một số metacercaria không bám được vào thực vật thuỷ sinh mà trôi nổi tự do trong nước. Giai đoạn metacercaria được vật chủ cuối cùng ăn và phát triển thành sán trưởng thành. Con người và động vật khi ăn thức ăn (rau thuỷ sinh đối với con người và cỏ đối với động vật) chứa ấu trùng giai đoạn lây nhiễm hoặc uống phải nước có chứa mầm bệnh thì ấu trùng thoát khỏi vỏ nang trong đường ruột, xuyên qua niêm mạc ruột vào khoang khúc mạc và sau đó di chuyển tới gan, đường mật.
Ở nhu mô gan thì quá trình hấp thu dinh dưỡng bắt đầu và gây tổn thương cho 5 gan, gây ỉa chảy, thiếu máu. Sán di chuyển đến mô gan trong thời gian từ 5-6 tuần và cuối cùng đến các ống mật. Sau 3- 4 tháng, sán phát triển thành con trưởng thành và đẻ trứng. Ở động vật, một cá thể sán trưởng thành có thể đẻ đến 25.Sán trưởng thành có thể sống từ 9-14 năm trong vật chủ (Boray 1982).Vòng đời phát triển của sán lá gan lớn.
Qua chu trình phát triển trên có thể thấy sự phát triển của sán lá gan phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vật chủ và môi trường. Vì vậy, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sán lá gan sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc phòng bệnh thích hợp. Tình hình nghiên cứu về sán lá gan lớn trên thế giới 1. Phân loại và phân bố của 2 loài sán lá gan lớn Các nghiên cứu đã cung cấp những bằng chứng cho thấy tính hiệu lực của 2 loài F.
gigantica, chúng khác nhau về hình thái, vật chủ 6 chính và vật chủ trung gian là ốc ở các vùng địa lý với đặc điểm môi trường khác nhau. hepatica phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới của châu Âu, Bắc, Trung và Nam Mỹ; Bắc và Trung Á; châu Đại Dương; Bắc, Đông và Nam Phi; và cả ở các quần đảo lớn như New Zealand, Tasmania, Iceland, Cyprus, Corsica, Sardinia, Sicily, Nhật Bản, Papua New Guinea, Philippine và một số đảo của Caribbean. gigantica giới hạn ở vùng nhiệt đới và có mặt ở châu Phi, châu Á, Viễn Đông, Đông Âu. Mặc dù nhiều sách cho rằng F.
gigantica có ở cả phía Nam nước Mỹ và Hawaii, nhưng không có bằng chứng để chứng minh loài này trên nước Mỹ. Một số vùng có sự phân bố của cả 2 loài (Dalton 1999).Ở những vùng có sự chồng chéo của 2 loài xuất hiện dạng trung gian khó có thể kết luận là loài nào.Ở châu Á và châu Phi, có nhiều dạng trung gian đã được phát hiện, một số giống F. hepatica, số khác giống F. gigantica, và một số dạng trung gian.Sự lai và chuyển gen giữa 2 loài sán lá gan, F.
gigantica đã được thông báo ở các nước châu Á, như Hàn Quốc (Agatsuma et al. 2000; Choe et al. 2011), Nhật Bản (Itagaki et al. 2005), Iran (Ashrafi et al.
2006; Amor et al. 2011), Trung Quốc (Peng et al. 2009; Ai et al. 2011) và Việt Nam (Le et al.
2008) cũng như các nước châu Phi (Periago et al. 2008; Amer et al. Một nghiên cứu hình thái tỷ mỉ và chính xác đã thực hiện để xem liệu có phân biệt 2 loài F.Tác giả kết luận rằng các chỉ số chiều dài/rộng cơ thể (BL/BW) và khoảng cách từ mép sau giác bụng đến mút cuối cơ thể có ý nghĩa phân biệt 2 loài (Periago et al. Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở động vật và người Trâu, bò, cừu là động vật nuôi bị nhiễm sán lá gan lớn nặng nhất.Mặc dù, dê, ngựa, lợn, hươu và nhiều loài động vật khác cũng có thể bị nhiễm, nhưng ít quan trọng hơn ở những động vật này.