CHƯƠNG 1. Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu CHƯƠNG 2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu – Thực tiễn áp dụng tại công ty Luật TNHH Năm Sao CHƯƠNG 3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu: 1. Khái niệm nhãn hiệu: 1. Định nghĩa nhãn hiệu: Trong những năm gần đây, cùng với tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, thuật ngữ “nhãn hiệu” ngày càng được sử dụng rộng rãi không chỉ trong kinh tế, thương mại mà cả trên các phương tiện thông tin đại chúng và đời sống thường nhật.
Tuy nhiên, tỉ lệ người hiểu được một cách đúng đắn về thuật ngữ này lại chiếm số ít. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Khoản 1 Điều 15 Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (TRIPS) quy định: “Bất kì một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả từ riêng,các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kì các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng kí là nhãn hiệu hàng hóa”. Bên cạnh đó, Hiệp ước về Luật Nhãn hiệu (TLT) có những quy định về nhãn hiệu dịch vụ.
TLT dành cho nhãn hiệu dịch vụ - dấu hiệu nhận biết đặc thù của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ để phân biệt với hàng hóa - quy chế “bình đẳng” với nhãn hiệu. Trước đây, nhiều nước dành quy chế pháp lý khác nhau cho nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. TLT đã yêu cầu các quốc gia thành viên đăng ký nhãn hiệu dịch vụ và dành quy chế pháp lý tương tự như nhãn hiệu hàng hóa. Trên cơ sở hai Hiệp định TRIPS và TLT, Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO) định nghĩa nhãn hiệu là “các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau”.
Như vậy, ở đây khái niệm nhãn hiệu được quy định rất khái quát và mang tính quy chuẩn cao. Hầu hết pháp luật các quốc gia trên thế giới đều đi theo xu hướng chung đó khi đưa ra khái niệm về nhãn hiệu. Tuy nhiên, mỗi nước có hoàn cảnh cụ thể khác nhau nên định nghĩa về nhãn hiệu cũng có những điểm khác nhau: Ở Việt Nam, Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 định nghĩa về nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức cá nhân khác nhau”. Như vậy, pháp luật Việt Nam vẫn đã đi theo dòng chảy, hòa hợp với pháp luật chung của thế giới về cách hiểu đối với thuật ngữ “Nhãn hiệu”.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của nhãn hiệu: Mặc dù có những điểm khác nhau trong định nghĩa của mỗi Luật của mỗi nước song nhãn hiệu có những đặc điểm chung sau: - Thứ nhất về mục đích sử dụng của nhãn hiệu là nhằm phân biệt hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất (doanh nghiệp) này với nhà sản xuất (doanh nghiệp) khác. Chính mục đích sử dụng của nhãn hiệu đã quy định để một dấu hiệu trở thành một nhãn hiệu là phải có tính phân biệt; - Thứ hai, nếu nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ tại Cục SHTT thì sẽ trở thành một loại tài sản vô hình; - Thứ ba, các loại dấu hiệu có khả năng là nhãn hiệu: Pháp luật về nhãn hiệu các nước cũng như các Điều ước quốc tế không liệt kê các dấu hiệu cố định mà chỉ đưa ra các loại dấu hiệu phổ biến, cơ bản. Thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu ghi nhận những dấu hiệu sau: Từ ngữ; Chữ cái và con số; Hình vẽ, Màu sắc; Sự kết hợp các yếu tố đã kể; dấu hiệu ba chiều, dấu hiệu âm thanh(thính giác), dấu hiệu mùi (khứu giác), cách thức trình bày sản phẩm.
Pháp luật Việt Nam quy định về nhãn hiệu cũng có các đặc điểm nêu trên. Tuy nhiên, pháp luật nước ta có những điểm khác biệt về các dấu hiệu theo quy định của Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009. Cụ thể: - Đối với Chữ cái và con số: không phải mọi chữ cái và con số được thừa nhận là nhãn hiệu. Theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 74 các chữ số, chữ cái thuộc ngôn ngữ không thông dụng bị loại trừ.
Tuy nhiên nếu chúng đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu thì vẫn được chấp nhận; - Đối với hình vẽ: các hình học đơn giản hoặc hình được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến không được chấp nhận đăng kí vì chúng bị coi là không có khả năng phân biệt (điểm a, b Khoản 2 Điều 74). Từ đó có thể suy luận rằng, các hình học đơn giản trong không gian ba chiều như hình lập phương, hình trụ, hình chóp không được pháp luật Việt Nam thừa nhận là nhãn hiệu; - Đối với màu sắc: màu sắc không được thừa nhận là dấu hiệu có thể đăng ký mà chỉ được coi là phương thức xác định của các loại dấu hiệu khác (Khoản 1 Điều 72); - Đối với âm thanh (thính giác), mùi (khứu giác) và cách thức trình bày sản phẩm, pháp luật Việt Nam không có quy định bảo hộ và thực tiễn không thừa nhận các loại dấu hiệu này. Phân loại nhãn hiệu: Phân loại nhãn hiệu để xác định đặc trưng của một loại nhãn hiệu – đặc trưng này không chỉ ảnh hưởng tới cảm nhận của người tiêu dùng về sản phẩm của 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp mà còn có ảnh hưởng lớn tới quá trình đăng ký nhãn hiệu đó. Chẳng hạn, trong quá trình đăng ký mỗi loại nhãn hiệu có những yêu cầu cụ thể khác nhau (việc mô tả nhãn hiệu, tài liệu nộp trong đơn).
Phân loại nhãn hiệu ảnh hưởng tới xác định chế độ pháp lý của từng loại nhãn hiệu và giúp cho việc phân loại nhãn hiệu với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác (tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp). Do đó việc phân loại nhãn hiệu là yêu cầu cần thiết. Có thể phân loại nhãn hiệu theo các căn cứ sau: Thứ nhất, Căn cứ trên tính chất, chức năng của nhãn hiệu: - Nhãn hiệu hàng hóa: Là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của những đối tượng sản xuất khác nhau; - Nhãn hiệu dịch vụ: Là dấu hiệu để phân biệt dịch vụ của những đối tượng cung cấp khác nhau; - Nhãn hiệu tập thể: Là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức,cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó; - Nhãn hiệu chứng nhận: Là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu; - Nhãn hiệu liên kết: Là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau; - Nhãn hiệu nổi tiếng: Là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi. Thứ hai, Căn cứ vào dấu hiệu của nhãn hiệu: - Nhãn hiệu chữ: Bao gồm các chữ cái có thể kèm theo số, từ (có nghĩa hoặc không có nghĩa; có thể là tên gọi, từ ngữ tự đặt) (cụm từ, slogan,…) ; - Nhãn hiệu hình: Bao gồm hình vẽ, ảnh chụp, biểu tượng, hình khối; - Nhãn hiệu kết hợp: kết hợp cả chữ và hình (ví dụ như nhãn hiệu SB Law).
Phân biệt nhãn hiệu với một số khái niệm tương tự: Mặc dù đã có những quy định riêng biệt về nhãn hiệu, nhãn hàng hóa, tên thương mại. Song vẫn có rất nhiều người nhầm lẫn các đối tượng trên. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân biệt nhãn hiệu và nhãn hàng hóa: Nhãn hiệu Nhãn hàng hóa Chức Phân biệt hàng hóa cùng loại của Chủ yếu chứa các thông tin mang năng các cơ sở sản xuất khác nhau và tính mô tả hàng hóa giúp người tiêu không mang tính mô tả hàng hóa dùng nhận biết được hàng hóa đó Điều Có thể được bảo hộ thông qua Không phải là đối tượng của quyền kiện việc đăng ký tại Cục SHTT SHCN nên không phải đăng ký bảo bảo hộ hộ. Tuy nhiên đối với những nhãn hàng hóa ngoài những thông tin về sản phẩm còn có những họa tiết, hoa văn mang tính thẩm mỹ thì có thể đăng ký bảo hộ như một kiểu dáng công nghiệp Điều Hàng hóa lưu thông trên thị Hàng hóa lưu thông trên thị trường kiện trường có thể gắn hoặc không buộc phải có nhãn hàng hóa.
Nhãn hàng gắn nhãn hiệu hàng hóa phải có những thông tin hóa chủ yếu sau: tên hàng hóa, tên và địa lưu chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất ra thông hàng hóa, thành phần cấu tạo, công dụng, thời hạn sử dụng, hướng dẫn sử dụng, điều kiện bảo quản… Sử Một nhãn hiệu có thể sử dụng Một nhãn hàng hóa chỉ có thể sử dụng cho nhiều loại hàng hóa dụng cho một loại hàng hóa nhất định. Phân biệt nhãn hiệu với tên thương mại: Nhãn hiệu Tên thương mại Khái Là dấu hiệu dùng để phân biệt Là tên gọi chung của tổ chức, cá niệm nhãn hiệu, hàng hóa, dịch vụ nhân dùng trong hoạt động kinh của các tổ chức, cá nhân khác doanh để phân biệt chủ thể kinh nhau doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Điều Phải đáp ứng các điều kiện là Chứa thành phần tên riêng; không kiện phải nhìn thấy được dưới dạng trùng hoặc tương tự đến mức gây 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.