Luận văn thạc sĩ xây dựng và thẩm định quy trình định lượng đồng thời omeprazole lansoprazole pantoprazole và rabeprazole trong huyết tương bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao hplc dad

Luận văn thạc sĩ trình bày quy trình định lượng đồng thời omeprazole, lansoprazole, pantoprazole và rabeprazole trong huyết tương bằng HPLC DAD.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ NHÓM PPIs

1.1.1. Lịch sử phát minh nhóm thuốc ức chế bơm proton

1.1.2. Công thức hóa học và tính chất

1.1.3. Cơ chế tác dụng

1.1.4. Dược động học

1.1.5. Dược lực học

1.1.6. Tác dụng không mong muốn

1.1.7. Chỉ định

1.1.8. Chống chỉ định

1.2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH LƯỢNG OPZ, LPZ, PPZ VÀ RPZ TRONG DỊCH SINH HỌC

1.2.1. Trên thế giới

1.3. TỔNG QUAN VỀ SẮC KÝ LỎNG HIỆU NĂNG CAO

1.3.1. Nguyên tắc cấu tạo hệ thống HPLC

1.3.2. Một số thông số cơ bản của quá trình sắc ký

1.3.3. Cơ sở lý thuyết của việc lựa chọn điều kiện sắc ký. Một số phương pháp tính toán kết quả định lượng bằng HPLC

2. THẨM ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TRONG DỊCH SINH HỌC

2.1. Các chỉ tiêu thẩm định

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. NGUYÊN VẬT LIỆU, THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Hóa chất, dung môi. Chất đối chiếu, vật liệu nghiên cứu

3.1.3. Dụng cụ, máy móc, thiết bị

3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1. Các dung dịch thử nghiệm

3.2.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KẾT QUẢ

4. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

4.1. XÂY DỰNG ĐIỀU KIỆN SẮC KÝ

4.1.1. Kết quả khảo sát bước sóng phát hiện

4.1.2. Kết quả khảo sát pha động. Lựa chọn nội chuẩn

4.2. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ MẪU

4.3. THẨM ĐỊNH QUY TRÌNH PHÂN TÍCH ĐÃ CHỌN

4.3.1. Tính tương thích hệ thống

4.3.2. Thẩm định tính đặc hiệu

4.3.3. Thẩm định độ tuyến tính. Giới hạn định lượng dưới

4.3.4. Thẩm định độ đúng, độ lặp lại

4.3.5. Hiệu suất chiết

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Loét dạ dày - tá tràng là một trong những bệnh lý phổ biến nhất trong hệ tiêu hóa, ảnh hưởng đến khoảng 10% dân số toàn cầu. Nhóm thuốc ức chế bơm proton (PPIs) như omeprazole, lansoprazole, pantoprazole, và rabeprazole được sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh này. Tuy nhiên, việc định lượng các hoạt chất này trong huyết tương thường gặp khó khăn do quy trình phức tạp và tốn kém. Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng và thẩm định quy trình định lượng đồng thời các PPIs trong huyết tương bằng phương pháp HPLC. Quy trình này không chỉ giúp đơn giản hóa việc định lượng mà còn hỗ trợ trong việc điều chỉnh liều lượng thuốc cho bệnh nhân, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.

II. Tổng Quan Tài Liệu

Nghiên cứu về nhóm thuốc PPIs đã chỉ ra rằng các thuốc này có tác dụng ức chế bài tiết acid dịch vị thông qua việc ức chế enzym H+/K+ – ATPase. HPLC là phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, được sử dụng để phân tích và định lượng các hoạt chất trong huyết tương. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc sử dụng HPLC cho phép đạt được độ chính xác và độ nhạy cao trong việc xác định nồng độ của omeprazole, lansoprazole, pantoprazole, và rabeprazole. Điều này cho thấy tiềm năng ứng dụng của phương pháp này trong nghiên cứu dược động học và lâm sàng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu

Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc xây dựng quy trình định lượng đồng thời các PPIs trong huyết tương bằng HPLC. Các dung dịch thử nghiệm được chuẩn bị từ huyết tương và các chất chuẩn. Quy trình thẩm định được thực hiện theo hướng dẫn của FDA, bao gồm các chỉ tiêu như tính đặc hiệu, độ chính xác, và độ ổn định. Kết quả cho thấy quy trình đạt yêu cầu về tính phù hợp hệ thống và độ chính xác cao, cho phép định lượng đồng thời bốn hoạt chất trong một lần phân tích.

IV. Kết Quả và Bàn Luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện sắc ký tối ưu cho việc định lượng đồng thời omeprazole, lansoprazole, pantoprazole, và rabeprazole trong huyết tương là sử dụng cột sắc ký XDB Zobrax C18 với pha động là hỗn hợp nước 0,3% TEA, acetonitril và methanol. Phương pháp này cho phép phát hiện các hoạt chất với độ nhạy cao và thời gian phân tích ngắn. Việc thẩm định quy trình cho thấy tính ổn định và độ chính xác cao, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một quy trình phân tích trong dịch sinh học.

V. Kết Luận và Kiến Nghị

Nghiên cứu đã xây dựng thành công quy trình định lượng đồng thời omeprazole, lansoprazole, pantoprazole, và rabeprazole trong huyết tương bằng phương pháp HPLC. Quy trình này không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn thẩm định mà còn có thể được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu dược động học và lâm sàng. Đề xuất cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện quy trình và mở rộng ứng dụng của nó trong các nghiên cứu khác liên quan đến PPIs.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ NHÓM PPIs 1. Lịch sử phát minh nhóm thuốc ức chế bơm proton Thuốc PPI đầu tiên ra đời vào năm 1989 là OPZ, tiếp theo đó là sự ra đời của các thuốc LPZ, PPZ và RPZ, esomeprazole và mới đây nhất là dexlansoprazole.

Các thuốc ức chế bơm proton gồm OPZ, esomeprazole, LPZ, PPZ và RPZ. Chúng ức chế bài tiết acid dịch vị do ức chế hệ thống enzym H+/K+ – ATPase (“bơm proton”) của tế bào thành dạ dày. Các thuốc ức chế bơm proton điều trị có hiệu quả trong loét dạ dày và tá tràng, phối hợp với kháng sinh để tiệt trừ Helicobacter pylori. Trong bệnh trào ngược dạ dày – thực quản, chỉ dùng thuốc nhóm này khi có triệu chứng nặng (lúc đầu ngắn ngày) và khi có các biến chứng như hẹp, loét, chảy máu đã được xác định bằng nội soi (phải điều trị duy trì đủ liều bằng một thuốc của nhóm này).

Các thuốc ức chế bơm proton cũng được dùng để phòng ngừa và điều trị các trường hợp loét do dùng NSAID. ở những người phải tiếp tục dùng NSAID sau khi vết loét đã liền, thông thường không nên giảm liều thuốc ức chế bơm proton vì tình trạng loét không triệu chứng có thể xảy ra. Thuốc ức chế bơm proton có hiệu quả trong điều trị hội chứng Zollinger – Ellison (kể cả các trường hợp kháng với các điều trị khác) [6]. Công thức hóa học và tính chất Bảng 1.

Công thức hóa học và tính chất của các PPIs OPZ LPZ PPZ RPZ CTPT C17H19N3O3S C16H14F3N3O2S C16H15F2N3O4S C18H21N3O3S KLPT 345,4 369,36 383,4 358,4 5-methoxy-2-[(4-methoxy-3,5- 2-[[3-methyl-4-(2,2,2- 6-(Difluoromethoxy)-2-[[(3,4- 2-[[4-(3-methoxypropoxy)-3- Danh dimethylpyridin-2-yl)- trifluoroethoxy)pyridin-2-yl]- imethoxypyridin-2-yl) methylpyridin-2-yl]methyl- pháp methylsulfinyl]-1H- methylsulfinyl]-1H-benzimidazole methylsulfinyl]-1H- sulfinyl]-1H-benzimidazole benzimidazole benzimidazole CTCT Bột trắng hoặc gần như trắng. Bột kết tinh màu trắng hay nâu nhạt, Bột kết tinh màu trắng hay gần Bột kết tinh màu trắng hoặc hơi Tan trong dicloromethan và nhiệt độ nóng chảy khoảng 166°C. Khó tan trong nước và vàng trắng. Khó tan trong nước và dung dịch kiềm loãng, hơi tan Rất dễ tan trong dimethylformamid, ethanol (96%), thực tế không tan ethanol, thực tế không tan trong Tính trong ethanol 96% và tan trong methanol, hơi tan trong trong hexan.

Rất dễ bị phân hủy hexan. Rất dễ bị phân hủy trong chất methanol, rất khó tan trong ethanol, khó tan trong ethyl acetat, trong môi trường acid, thường môi trường acid, thường thấy ở nước [1], [21]. dicloromethan, rất khó tan trong thấy ở dạng muối natri ngậm 1,5 dạng muối natri [21]. acetonitril, thực tế không tan trong phân tử nước [4], [11], [14], [21].

hexan và nước [1], [21], [22]. Cơ chế tác dụng Các thuốc thuộc nhóm ức chế bơm proton là dẫn xuất benzimidazole, chúng có cùng cơ chế là ức chế bơm H+/ K+ ATPase (còn gọi là bơm proton). Sau khi vào trong cơ thể, ở pH ≤ 5, thuốc được proton hóa thành 2 dạng: acid sulphenic và sulphenamic. Hai chất này gắn thuận nghịch với nhóm sulfhydryl của bơm H+/ K+ ATPase ở tế bào thành dạ dày nên ức chế bài tiết acid do bất kỳ nguyên nhân nào [3], [6].

Dược động học Khi dùng đường uống, các PPIs hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa nhưng thay đổi tùy thuộc theo liều dùng và pH dạ dày. Sinh khả dụng theo đường uống có thể đạt đến 70 % nếu dùng lặp lại. Các thuốc gắn mạnh vào protein huyết tương (> 95 %). Nhóm thuốc PPIs chuyển hóa chủ yếu qua gan, chất chuyển hóa được đào thải chủ yếu qua nước tiểu (80 %), phần còn lại qua mật vào phân.

Thời gian bán thải khoảng 30 – 90 phút [3], [6]. Dược lực học Thuốc ức chế đặc hiệu và không hồi phục bơm proton do tác dụng chọn lọc trên tế bào thành dạ dày nên thuốc tác dụng nhanh và hiệu quả hơn các thuốc khác. Tỷ lệ làm lành vết loét có thể đạt 95 % sau 8 tuần điều trị. Rất ít ảnh hưởng đến khối lượng dịch vị, sự bài tiết pepsin, yếu tố nội dạ dày và sự co bóp dạ dày [2], [6].

Tác dụng không mong muốn Thuốc có thể gây các rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, táo bón hay tiêu chảy, các rối loạn thần kinh trung ương như chóng mặt, nhức đầu, ngủ gà (ít gặp). Ngoài ra, do thuốc gây ức chế tiết acid sẽ khiến pH dạ dày tăng lên, làm cho một số vi khuẩn phát triển gây ung thư (hiếm). PPIs ức chế cytochrome P450 nên có thể ảnh hưởng đến tác dụng của các thuốc khác khi dùng đồng thời [2], [6]. Chỉ định  Trào ngược dạ dày - thực quản.

 Loét dạ dày, tá tràng.  Dự phòng loét dạ dày, tá tràng do dùng thuốc chống viêm không steroid, do stress.  Hội chứng Zollinger – Ellison [6]. Chống chỉ định Quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc [6].

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH LƯỢNG OPZ, LPZ, PPZ VÀ RPZ TRONG DỊCH SINH HỌC 1. Trên thế giới Bảng 1. Tóm tắt các nghiên cứu định lượng OPZ, LPZ, PPZ và RPZ trong dịch sinh học đã được công bố trên Thế giới Bước sóng Tốc độ Thể tích Đối tượng Chuẩn nội Pha động Cột sắc ký phát hiện dòng bơm định lượng (nm) (ml/phút) mẫu (µl) H. Dugger và ACN – đệm kali các cộng sự Megesterol C18, 250 mm x LPZ dihydrophosphat pH 4,5 (46 : 285 1,5 10 (2001) acetat 4,6 mm; 5µm 54) [12] Na2HPO4 0,05 M – acetonitril K.

Yuen và các (ACN) (65 : 35), đã điều chỉnh C18, 150 mm x cộng sự (2001) OPZ Chloramphenicol 302 1,0 20 pH đến 6,5 bằng acid acetic 4,6 mm; 5 µm [24] băng Ramakrishna và Đệm phosphate 10 mM (pH C18, 250 mm x cộng sự (2005) PPZ Zonisamide 290 1,0 100 6,0) – ACN (6 1: 39) 4,6 mm; 5 µm [19] 5 Luan van Đệm amoni acetate 5 mM (đã Ramakrishna và PPZ điều chỉnh pH đến 7,4 bằng C18, 250 mm x các cộng sự RPZ 284 1,0 100 dung dịch natri hydroxit) – 4,6 mm; 5µm (2005) [20] ACN – MeOH (45 : 20 : 35) Đệm amoni bihydro phosphate 285 nm Zeng Xiaohui và 0,01 M – ACN C18, 150 mm x với LPZ các cộng sự LPZ OPZ 1,0 20 (66 : 34), được thêm 1 ‰ 4,6 mm; 5 µm và 305nm (2006) [23] Octylamine với OPZ Triethylamin (TEA) 0,1 % (pH D. Bharathi và OPZ, = 6,0 được điều chỉnh bằng C18, 75 mm x cộng sự (2009) LPZ, PPZ Zonisamide 270 1,0 20 acid ortho phosphoric) – ACN 4,6 mm; 3,5 µm [10] và RPZ (72 : 28) Định lượng OPZ và LPZ thì PPZ 290 nm Maryam OPZ, được sử dụng Đệm phosphate 10 mM – đối với Noubarani và các C18, 150 mm x LPZ, PPZ làm chất chuẩn ACN (53 : 47), đã điều chỉnh PPZ và 1,0 50 cộng sự (2010) 4,6 mm; 5 µm và RPZ nội. Định lượng pH đến 7,3 bằng TEA 285 nm [18] PPZ và RPZ thì với LPZ LPZ được dùng 6 Luan van làm chất chuẩn nội R. Hussein và Đệm Na2HPO4 0,05 M –ACN Cột C18, 4,5 x cộng sự (2016) OPZ LPZ (60 : 40), đã điều chỉnh pH đến 302 1,0 100 150 mm; 5 µm [16] 7,0 bằng acid phosphoric Các PPIs cũng có thể được định lượng trong huyết tương bằng một số phương pháp khác như: phương pháp LC/MS, LC/MS/MS [15], [25], [27], [28], [31] hay phương pháp điện di mao quản [30].

Trong nước Năm 2010, Đào Văn Đôn và các cộng sự đã nghiên cứu định lượng PPZ trong huyết tương chó bằng phương pháp HPLC, sử dụng chất nội chuẩn là LPZ. Với điều kiện sắc ký là cột Gemini C18, 250 mm x 4 mm; 5 µm. Pha động ACN – đệm K2HPO4 0,01 M, điều chỉnh pH đến 6,0 (39 : 61); tốc độ dòng là 1,0 ml/phút; thể tích tiêm mẫu là 100 µl. Đầu dò UV ở bước sóng 296 nm.

Kết quả cho thấy khảo sát độ tuyến tính trong khoảng nồng độ 20 – 5000 ng/ml. Phương pháp HPLC có độ chính xác trong ngày và khác ngày lần lượt là 1,4 – 5,2 % và 1,5 – 4 %. Độ đúng trong ngày và khác ngày tương ứng là 99,3 – 102,2 % và 100,7 – 103,5 % [7]. TỔNG QUAN VỀ SẮC KÝ LỎNG HIỆU NĂNG CAO 1.

Cơ sở lý thuyết Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) là kỹ thuật phân tích dựa trên cơ sở của sự phân tách các chất trên một pha tĩnh chứa trong cột nhờ dòng di chuyển của pha động lỏng ở áp suất cao. Pha tĩnh có thể là chất rắn được bao trên bề mặt một chất mang rắn, hoặc là chất mang rắn đã được biến đổi bằng liên kết hóa học với các nhóm hữu cơ. Quá trình sắc ký xảy ra theo cơ chế: hấp phụ, phân tán, trao đổi ion hay tương tác hóa học trên bề mặt [8], [5]. Nguyên tắc cấu tạo hệ thống HPLC 1.

Hệ thống bơm Để bơm pha động vào cột sắc ký, bơm này phải điều chỉnh được áp suất (thường là từ 0 - 400 bar) để đẩy pha động qua hệ thống với một tốc độ dòng ổn định, phù hợp với quá trình sắc ký [8], [5]. Bình chứa dung môi và hệ thống xử lý dung môi Bình chứa dung môi thường bằng thủy tinh, đôi khi bằng thép không gỉ. Dung môi cần được lọc loại các hạt (thường dùng màng lọc cỡ lỗ 0,45 µm) và đuổi khí hòa tan trong dung môi (thường dùng máy siêu âm đuổi khí) [8], [5]. Bộ phận tiêm mẫu Để đưa mẫu phân tích vào cột có thể tiêm mẫu bằng tay hay tiêm mẫu bằng hệ thống tiêm mẫu tự động.

Thể tích tiêm được xác định nhờ vòng chứa mẫu (tiêm tay) hay microsyringe tiêm trong hệ thống tiêm mẫu tự động [8], [5]. Cột sắc ký Cột là bộ phận có thể coi là quan trọng nhất của hệ thống sắc ký vì ở cột xảy ra quá trình phân tách các chất. Cột được chế tạo bằng thép đặc biệt trơ với hóa chất, chịu được áp suất cao tới vài trăm bar. Cột có nhiều cỡ khác nhau, tùy theo mức độ và mục đích của quá trình sắc ký.

Nhìn chung, các cột phân tích thường có chiều dài từ 10 – 25 cm, đường kính 2 – 5 mm [8], [5]. Bộ phận phát hiện Là bộ phận phát hiện chất phân tích. Tùy theo bản chất của các chất cần phân tích mà sử dụng đầu dò thích hợp, hiện nay có các loại đầu dò sau: Đầu dò hấp thụ UV – Vis, đầu dò phổ phát xạ nguyên tử, đầu dò huỳnh quang [8], [5]. Một số thông số cơ bản của quá trình sắc ký 1.

Thời gian lưu tR và thể tích lưu VR Thời gian lưu (tR): Là thời gian cần để một chất di chuyển từ nơi tiêm mẫu qua cột sắc ký, tới bộ phận phát hiện và cho pic trên sắc ký đồ tính từ lúc tiêm đến lúc xuất hiện đỉnh của pic.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thạc sĩ: Định lượng đồng thời omeprazole, lansoprazole, pantoprazole và rabeprazole trong huyết tương bằng HPLC" của tác giả Nguyễn Lê Vân Hà, dưới sự hướng dẫn của DS. Dương Đình Chung tại Trường Đại Học Nguyễn Tất Thành, tập trung vào nghiên cứu quy trình định lượng các loại thuốc ức chế bơm proton trong huyết tương bằng phương pháp HPLC. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp một quy trình phân tích chính xác mà còn góp phần nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và cung ứng thuốc, đặc biệt là trong điều trị các bệnh lý liên quan đến dạ dày.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực dược học và quản lý thuốc, bạn có thể tham khảo bài viết Thực Trạng Kê Đơn Thuốc Trong Điều Trị Ngoại Trú Tại Trung Tâm Y Tế Huyện Kon Rẫy, Tỉnh Kon Tum Năm 2022, nơi phân tích thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, hay Phân Tích Thực Trạng Tồn Trữ Thuốc Tại Trung Tâm Y Tế Huyện Mê Linh – Hà Nội Năm 2021, nghiên cứu về việc tồn trữ thuốc tại các cơ sở y tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về quy trình quản lý và cung ứng thuốc trong thực tế.