MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch nông thôn mới là một việc làm hết sức cần thiết bởi lẽ phát triển nông thôn toàn diện đang là vấn đề cấp bách hiện nay trên phạm vi cả nƣớc. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ định hƣớng phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn tới là “tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị, giữa các cùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ an ninh quốc phòng. Hơn nữa các văn bản hƣớng dẫn của các Bộ, ngành về triển khai thực hiện chƣơng trình xây dựng nông thôn mới chƣa có sự thống nhất với nhau, chƣa kịp thời nên việc thực hiện còn chậm.
Hải Phòng là thành phố cảng biển, đô thị loại 1 cấp quốc gia, thành phố có 15 đơn vị hành chính trực thuộc trong đó có 8 huyện, với 143 xã chiếm 82% diện tích toàn thành phố; dân số khu vực nông thôn chiếm 55,2% số dân toàn thành phố, số ngƣời trong độ tuổi lao động chiếm 60,4%. Với đặc điểm nêu trên, việc nghiên cứu để xác lập cơ sở khoa học cho việc quy hoạch nông thôn mới phải đi trƣớc, để từ đó các ngành, cấp mới triển khai đồng bộ, hiệu quả. X· Tr-êng Thä n»m ë phÝa B¾c huyÖn An L·o, c¸ch trung t©m thÞ trÊn An L·o kho¶ng 3 km vÒ phÝa §«ng Nam, lµ x· cã kh¸ nhiÒu tiÒm n¨ng ®Ó ph¸t triÓn kinh tÕ, x· héi, giao th«ng thñy bé t-¬ng ®èi thuËn lîi, lùc l-îng lao ®éng trÎ dåi dµo, c¬ së h¹ tÇng ngµy mét khang trang. Quy hoạch xây dựng xã Tr-êng Thä nhằm đánh giá rõ các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để đƣa ra định hƣớng phát triển về không gian, mạng lƣới dân cƣ, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội nhằm khai thác tiềm năng vốn có của địa phƣơng, từ đó có thể chủ động kiểm tra quản lý xây dựng, đất đai của địa phƣơng, đảm bảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đề ra.
Xuất phát từ lý do trên, đề tài nghiên cứu đƣợc lựa chọn với tiêu đề: “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch nông thôn mới xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải phòng”. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu xác lập luận cứ khoa học nhằm xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí về nông thôn mới xã Trƣờng Thọ, huyện An Lão, Thành phố Hải Phòng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Định hƣớng phát triển mạng lƣới điểm dân cƣ và kết quả hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật cũng nhƣ các công trình sản xuất, phục vụ sản xuất phù hợp với các yêu cầu xây dựng nông thôn mới. - Làm cơ sở pháp lý cho việc phát triển các điểm dân cƣ và hệ thống kết cấu hạ tầng; cho việc hƣớng dẫn, quản lý đất đai và đầu tƣ xây dựng theo quy hoạch trên địa bàn xã. - Đánh giá biến động sử dụng đất xã Trƣờng Thọ giai đoạn 2003-2010. - Đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa xã Trƣờng Thọ - Đánh giá và so sánh thực trạng phát triển xã Trƣờng Thọ theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu 3. Quan điểm nghiên cứu 3. Quan điểm hệ thống Có nhiều quan niệm khác nhau về hệ thống tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất. Các nhà cảnh quan học quan niệm hệ thống nhƣ một địa hệ - hệ thống của các yếu tố tự nhiên, là “tổng thể các thành phần nằm trong sự tác động tương hỗ” (L.
Bertalanf), là “tập hợp bất kỳ các thành phần tác động tương hỗ” (A. Armand, 1971) và có tính thứ bậc. Các nhà kinh tế sinh thái quan niệm hệ thống nhƣ một hệ thống xã hội - môi trƣờng (socio-environmental system) - những hệ thống phức tạp, tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và có thể thực hiện những hoạt động không thể dự báo trƣớc (Clayton và Radcliffe, 1996), có khả năng tự điều chỉnh và có thứ bậc, bao gồm nhiều hệ thống nhỏ khác nhau (Jennings và Reganold, 1991; Norton và Ulanowicz, 1992; Warren và Cheney, 1993; Muster et al, 1994). Các nhà quy hoạch vùng và tổ chức lãnh thổ quan niệm hệ thống là một thể thống nhất và khách quan của mọi chủ thể tồn tại và phát triển trên trái đất.
Do đó, mọi hoạt động của hệ thống phải luôn thể hiện ở trạng thái cân bằng và phải đƣợc điều chỉnh kịp thời khi chịu tác động, đó là tiêu chuẩn của phát triển bền vững. Vì vậy, trong tổ chức lãnh thổ phải luôn ƣu tiên vấn đề công bằng giữa các vùng, các khu vực bởi vì hệ thống đó chỉ cân bằng và tự điều chỉnh trong một ngƣỡng cho phép, nếu vƣợt quá ngƣỡng đó, hệ thống sẽ tan vỡ. Quan điểm tổng hợp Quan điểm tổng hợp xuất phát từ quan điểm hệ thống, nhấn mạnh mối quan hệ thống nhất và biện chứng giữa các yếu tố hệ thống trong một tổng thể hoàn chỉnh mà mỗi yếu tố (hệ thống này) là một mắt xích trong một mạng lƣới liên hệ với các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu tố và hệ thống khác. Do đó, quan điểm tổng hợp đòi hỏi cần phải hiểu rõ, hiểu đúng các yếu tố cấu thành hệ thống và mối liên hệ giữa chúng trƣớc khi quyết định tác động vào một yếu tố.
Bởi lẽ chỉ cần một tác động nhỏ vào một yếu tố thôi thì cũng có thể làm biến đổi toàn bộ hệ thống, phá vỡ trạng thái cân bằng và ổn định của hệ thống, dẫn đến những hậu quả khó lƣờng. Quan điểm lịch sử Đối với nhà địa lý, khi nghiên cứu và đánh giá tài nguyên cho việc phát triển sản xuất ở một lãnh thổ nào đó thì việc xem xét lịch sử diễn biến đã xẩy ra trong quá khứ có tầm quan trọng đặc biệt. Thiên nhiên là một chỉnh thể thống nhất và là tổng hòa của các mối quan hệ tƣơng tác. Trong đó có sự tƣơng tác giữa con ngƣời với tự nhiên mà hiện trạng sản xuất và mô hình sản xuất hiện tại là một tấm gƣơng phản ảnh lịch sử lựa chọn của con ngƣời để tạo nên sự tƣơng thích của đối tƣợng cây trồng, vật nuôi.
Vì vậy, để có những phƣơng án quy hoạch khả thi, cần phải xác định đƣợc các loại hình sử dụng đất trong quá khứ và hiện tại. Do đó, việc nghiên cứu lịch sử phát triển các mô hình hiện trạng nông nghiệp cây trồng - vật nuôi trong quá trình sử dụng đất đai là không thể thiếu đƣợc. Nói cách khác, nghiên cứu quá khứ và hiện tại của các mô hình sản xuất cũng là cơ sở khoa học vững chắc cho việc đánh giá tài nguyên và định hƣớng quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, đồng thời trên cơ sở của lịch sử đó có thể đƣa ra những dự báo về kinh tế, sinh thái và môi trƣờng một cách hữu hiệu. Quan điểm phát triển bền vững Tháng 6 năm 1992, Hội nghị Thƣợng đỉnh về Môi trƣờng và Phát triển họp tại Rio de Janeiro đã đƣa ra Bản tuyên ngôn “Về Môi trường và Phát triển” và “Chƣơng trình nghị sự 21” (Agenda 21-Action Plan for Sustainable Development for the 21st Century) thống nhất định nghĩa về PTBV: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không làm tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai” và PTBV phải là mục tiêu của toàn nhân loại trong thế kỷ XXI.
Tiếp đến, vào năm 2002, Liên Hiệp Quốc lại tổ chức một hội nghị khác tại Johannesburg, Nam Phi với sự tham gia của 196 quốc gia “Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững”. Hội nghị Johannesburg đã xác định phải xúc tiến và thực hiện Agenda 21 và đã đề ra các mục tiêu cho thiên niên kỷ mới. PTBV đã trở thành tuyên ngôn và chiến lƣợc hành động chung của nhiều quốc gia trên thế giới. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ý nghĩa quan trọng nhất của khái niệm PTBV là nó không chỉ đề cập đến các vấn đề hiện tại mà còn đòi hỏi phải quan tâm đến sự phát triển của các thế hệ tƣơng lai: Sự công bằng giữa các thế hệ.
Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học còn cho rằng PTBV còn mang tính đạo đức, ý nghĩa nhân văn cao cả của con ngƣời trong quá trình phát triển. Cơ sở của PTBV là: - Giảm đến mức thấp nhất sự khánh kiệt tài nguyên, đảm bảo sử dụng lâu dài tài nguyên không tái tạo (khoáng sản,…). - Bảo tồn tính đa dạng sinh học, đảm bảo tài nguyên tái tạo đƣợc (sinh vật,…) có khả năng phục hồi. Sơ đồ phát triển bền vững (UNESCO) Mục tiêu cuối cùng của PTBV là thoả mãn yêu cầu căn bản của con ngƣời, cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hữu hiệu HST, bảo đảm tƣơng lai ổn định.
PTBV thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ, giữa các quốc gia, giữa hiện tại với tƣơng lai. PTBV có tính chất đa diện, thống nhất, toàn bộ. Muốn PTBV phải lồng ghép đƣợc 3 thành tố quan trọng của sự phát triển với nhau: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT. Đây là nguyên lý chung để hƣớng sự PTBV của các lĩnh vực trong nền kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu 3. Phương pháp điều tra thực địa Phƣơng pháp điều tra thực địa có ý nghĩa quyết định đối với quá trình nghiên cứu của đề tài, do địa bàn và nội dung nghiên cứu gắn liền với một địa phƣơng cấp huyện. Vì vậy, khối lƣợng số liệu, tài liệu là rất lớn và đòi hỏi mức độ chi tiết cao. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặt khác, đề tài nghiên cứu quá trình biến đổi nông thôn trong một khoảng thời gian dài vì vậy cần đến các số liệu thống kê nhiều năm liền.
- Nghiên cứu, khảo sát các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất trong khu vực nghiên cứu. - Kiểm chứng kết quả phân loại tƣ liệu viễn thám và so sánh với bản đồ hiện trạng sử dụng đất tại các thời điểm nghiên cứu cụ thể.