Phần mở đầu (trang 1 - 7); chƣơng 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu môi trƣờng làng nghề (trang 9 - 34); chƣơng 2: Hoạt động sản xuất và ảnh 7 z hƣởng của nó đến môi trƣờng làng nghề (trang 36 - 91); chƣơng 3: Xu thế phát triển kinh tế - xã hội, diễn biến môi trƣờng và QHBVMT làng nghề (trang 92 - 142); Kết luận và kiến nghị (trang 145 - 149). Luận án tham khảo 180 tài liệu, trong đó có 48 tài liệu tiếng Anh, có 47 bảng biểu và 39 hình minh họa. Xác định mục tiêu, nhiệm vụ QHBVMT làng nghề Điều kiện địa lý và hiện trạng sản xuất của làng nghề Điều kiện tự nhiên Hoạt động sản xuất và các tác và kinh tế xã hội động đến môi trƣờng Tác nhân ảnh Điều kiện Điều kiện Quy trình hƣởng đến tự nhiên kinh tế xã hội sản xuất môi trƣờng Phân tích đánh giá tác động của hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp tới môi trƣờng làng nghề Phân tích, đánh giá tác động Phân tích, đánh giá tác động đến môi trƣờng tự nhiên tới môi trƣờng kinh tế xã hội Phân loại chất lƣợng môi trƣờng làng nghề Dự báo diễn biến chất lƣợng môi trƣờng làng nghề Dự báo diễn biến chất lƣợng môi Dự báo xu thế phát triển KT- trƣờng tự nhiên XH Quy hoạch bảo vệ môi trƣờng làng nghề 8 z Quy hoạch tập trung Quy hoạch phân tán Các giải pháp hỗ trợ quy hoạch bảo vệ môi trƣờng làng nghề: công nghệ, quản lý, kinh tế. CHƢƠNG1: Hình 1.
Mô hình các bƣớc nghiên cứu của luận án CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH MÔI TRƢỜNG LÀNG NGHỀ 1. KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ 1. Vài nét về lịch sử phát triển và vai trò của làng nghề Làng nghề nông thôn đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển Việt Nam. Có thể chia lịch sử phát triển làng nghề thành các giai đoạn sau [4, 5, 14, 36, 54, 64]: - Giai đoạn 1954 - 1978, giai đoạn miền Bắc xây dựng XHCN.
Tại một số làng nghề đã xuất hiện những HTX - TTCN, chủ yếu là làm hàng xuất khẩu thủ công, mỹ nghệ. xuất khẩu đi các nƣớc XHCN. Giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống không có thị trƣờng đã bị mai một và suy thoái. - Giai đoạn 1978 - 1985, giai đoạn xây dựng lại đất nƣớc, khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh.
Nhiều nghề truyền thống đã đƣợc khôi phục, tuy nhiên chỉ để đáp ứng nhu cầu nhỏ và thấp của đại đa số ngƣời tiêu dùng. - Giai đoạn 1986 - 1992, giai đoạn đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng. Giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống đƣợc khôi phục và phát triển, trong mỗi làng nghề quy mô sản xuất đƣợc mở rộng, đầu tƣ về vốn, kỹ thuật đƣợc tăng cƣờng. 9 z - Giai đoạn từ năm 1993 đến nay, giai đoạn mở cửa, hội nhập sau khi thị trƣờng Đông Âu và Liên Xô cũ không còn, sản xuất ở các làng nghề lâm vào tình trạng khủng khoảng.
Tuy nhiên, một hƣớng đi mới dần đƣợc xác lập do tìm kiếm đƣợc thị trƣờng khu vực châu Á nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông,. là những thị trƣờng tƣơng đối lớn cho các hàng thủ công mỹ nghệ. Từ năm 1993 trở lại đây đã có khá nhiều nghề và làng nghề truyền thống đƣợc phục hồi và phát triển, nhiều làng nghề mới xuất hiện. Tuy nhiên, ở một số địa phƣơng vì nhiều lý do nghề thủ công phát triển chậm.
Ví dụ, nghề thủ công ở Thừa Thiên Huế, trƣớc đây đã từng có thời kỳ phát triển rất mạnh nhƣ nghề đúc kim loại, nghề gốm, nghề kim hoàn. trong các năm gần đây những nghề này phát triển rất chậm, phân tán, có nghề lâm vào tình trạng bế tắc, có nghề không còn tồn tại. Hiện nay, với tiêu chí đã đề ra, cả nƣớc có khoảng 1.450 làng nghề [101, 130], thu hút hơn 10 triệu lao động [75], chiếm 29% lực lƣợng lao động ở nông thôn. Nhiều tỉnh có số lƣợng làng nghề cao nhƣ ở Hà Tây (cũ) (282), Thái Bình (187), Bắc Ninh (59), Hải Dƣơng (65), Hƣng Yên (48) [130] với hàng trăm nghề khác nhau, phƣơng thức sản xuất cũng khác nhau, làng nghề đã tạo ra lƣợng sản phẩm khá đa dạng đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu.
Khái niệm và tiêu chí nhận dạng làng nghề a. Khái niệm làng nghề: là các làng có ngành nghề TTCN, phi nông nghiệp chiếm ƣu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông [25, 131, 132]. Làng nghề truyền thống: là làng nghề đã hình thành từ lâu đời, sản phẩm có nét riêng, đặc thù có giá trị văn hóa - lịch sử của địa phƣơng đƣợc nhiều nơi biết đến, phƣơng thức truyền nghề cha truyền con nối hoặc dòng tộc [4, 25, 33, 131]. Làng nghề có nhiều hình thức: - Làng một nghề: Ngoài nghề nông, tại làng có thêm một nghề thủ công duy nhất chiếm ƣu thế tuyệt đối, nhƣ các làng nghề tơ lụa, làng nghề bún.
- Làng nhiều nghề: Ngoài nghề nông, tại làng có thêm nhiều nghề thủ công khác chiếm ƣu thế so với nghề nông. 10 z - Làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề thủ công xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và trải qua bao thăng trầm vẫn tồn tại cho đến ngày nay. - Làng nghề mới: Là làng có nghề mới xuất hiện và phát triển trong khoảng vài chục năm trở lại đây nhƣng có ƣu thế so với nghề nông. Tiêu chí làng nghề: [25, 64, 114 ]: - Số hộ và số lao động quy định làm nghề công nghiệp - TTCN ở làng ít nhất đạt 50% trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ công nghiệp - TTCN ở làng đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất của làng trong năm. - Có tổ chức phù hợp với tình hình thực tế của địa phƣơng (hội, câu lạc bộ, Ban quản trị HTX) mang tính tự quản đƣợc pháp luật thừa nhận. Dù tổ chức dƣới hình thức nào cũng cần có địa điểm nhất định phục vụ sinh hoạt kinh tế, văn hoá, xã hội liên quan đến hoạt động sản xuất của làng nghề. - Tên làng nghề: nếu là làng nghề truyền thống, cổ truyền còn tồn tại và phát triển thì lấy nghề đó đặt tên làng nghề.
Nếu làng nghề có nhiều nghề phát triển, sản phẩm nào nổi tiếng thì lấy nghề đó đặt tên cho làng nghề. Những nghiên cứu về làng nghề Những nghiên cứu ngoài nước: Làng nghề, tồn tại ở nhiều nƣớc trên thế giới: Đức, Thụy Điển, Hy Lạp. đặc biệt là một số nƣớc Châu Á: Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia, Philipin, Ấn Độ nhƣ là nét văn hóa và bản sắc riêng của từng quốc gia. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, đã có công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực “làng nghề”.
Tiêu biểu nhƣ Bành Tử với “Nhà máy làng xã” (1922), N. Noace với “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa nghề thủ công” (1828). Những năm giữa của thế kỷ XX, nhiều quan điểm, hƣớng phát triển ngành nghề thủ công đƣợc nghiên cứu, tìm tòi, tiêu biểu có Marshall, Alfred “Vai trò của kinh tế nông thôn” (1940); Jople “Kinh tế học truyền thống” (1954), R.Dorfman trong “Kinh tế học môi trường” (1956) đó là phát triển đi đôi với bảo tồn và bảo vệ. Cũng vào thời điểm đó một tổ chức về nghề thủ công trên thế giới đƣợc thành lập có tên gọi là World Crafts Council International (WCCI - 1964) bởi 11 z Aileen Osborn Vanderbilt Webb, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống [49, 140, 143].
Hội nghị đầu tiên của WCCI với sự tham gia của hơn 50 nƣớc tại Columbia University (New York), tập trung chủ yếu ở các vấn đề xuất nhập khẩu, giao thƣơng, du lịch. vấn đề môi trƣờng đƣợc đƣa ra ở hai hình thức: kêu gọi và khuyến cáo. Trong hội nghị lần thứ hai của WCCI (1972) tổ chức tại Nhật Bản, vấn đề tổ chức sản xuất và BVMT tại các làng nghề thủ công truyền thống đƣợc đề cập nhiều hơn và trở thành một trong những chủ đề “nóng” của Hội nghị [49, 146,159, 169]. Lúc này các tham luận của Srimati Kamaladevi và Margaret Patch đã nhấn mạnh cần “sắp xếp bộ máy công quyền” chuyên biệt đối với các nƣớc có số lƣợng nghề thủ công lớn nhƣ Thái Lan, Việt Nam.
Để tổ chức sản xuất ngành nghề thủ công, các chuyên gia của Triều Tiên (1970) đã sử dụng mô hình sản xuất dạng “Hợp tác xã”, có những chi phí thƣờng xuyên và cố định cho phòng ngừa ô nhiễm [140, 168,171]. Cũng trong thời điểm những năm 70, Nauy đã bắt đầu quan tâm tới việc làm sao quản lý tốt “sản xuất nông thôn” hay “mô hình sản xuất thu nhỏ” [136,168]. Đáng chú ý nhất vào năm 1979, ông Hiramatsu, Thống đốc quận Oita, Nhật Bản đã nghiên cứu và đƣa ra lý thuyết “Một làng một sản phẩm” (đƣợc gọi tắt là OVOP) [ 49, 140]. Mục tiêu của mô hình OVOP là tìm ra những sản phẩm độc đáo, đặc trƣng nhất của mỗi làng, sau đó liên kết, xây dựng lại để giới thiệu bán trên toàn quốc và thế giới.
Cho đến thập kỳ 80 của thế kỷ XX có một số ấn phẩm liên quan đến vấn đề BVMT làng nghề nhƣ Fisher “Kinh tế tài nguyên môi trường” (1981) và “Kinh tế làng nghề truyền thống” (1984); D. Foune “Tổ chức đơn vị không gian làng xã” (1984). Các tác phẩm này tập trung phân tích những ảnh hƣởng của phát triển kinh tế đối với môi trƣờng, lý thuyết sử dụng hợp lý tài nguyên, mô hình tổ chức sản xuất hộ gia đình, mô hình sản xuất tập trung đơn giản [138, 139,143]. Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây khi mà nét văn hóa truyền thống của từng quốc gia đƣợc đề cập đến nhiều hơn, những công trình nghiên cứu về làng nghề trên thế giới thực sự đƣợc thăng hoa.
Làng nghề lúc này đƣợc xem xét dƣới 12 z mọi khía cạnh: kinh tế, xã hội học, môi trƣờng, tổ chức sản xuất, quy hoạch phát triển., tất cả các nghiên cứu này đều hƣớng tới 03 mục đích: Giữ gìn bản sắc văn hóa của từng đơn vị làng nghề; Phát triển kinh tế; BVMT làng nghề. Bƣớc vào thế kỷ XXI, hầu hết ở tất cả các quốc gia có “Làng nghề” đều nhận thức rõ ràng hơn về sự suy thoái môi trƣờng và khái niệm PTBV đƣợc đƣa vào thực hiện.