CHƯƠNG I. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA QLNN ĐỐI VỚI CÁC KCN 1. Bản chất của quản lý nhà nước đối với các KCN 1.1 Khái niệm, phân loại, đặc điểm và vai trò của các KCN * Khái niệm KCN Khái niệm về KCN được quy định tại Luật Đầu tư được Quốc hội khoá 12, thông qua ngày 26/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 định nghĩa: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” [14].
* Phân loại KCN Có nhiều cách tiếp cận về KCN, vì vậy tùy từng cách tiếp cận với những tiêu chí khác nhau có các cách phân loại KCN khác nhau: - Theo mục đích sản xuất: Người ta chia ra KCN và khu chế xuất. KCN bao gồm các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Khu chế xuất là một dạng của KCN chuyên làm hàng xuất khẩu. - Theo mức độ mới – cũ: KCN chia làm 3 loại: + Các KCN cũ xây dựng trong thời kỳ bao cấp (từ trước khi có chủ trương xây dựng khu chế xuất năm 1990) như KCN Thượng Đình - Hà Nội, KCN Việt Trì, KCN Gang thép Thái Nguyên v.
+ Các KCN cải tạo, hình thành trên cơ sở có một số xí nghiệp đang hoạt động. + Các KCN xuất hiện trên địa bàn mới - Theo tình trạng cho thuê: Có thể chia số KCN thành ba nhóm có diện tích cho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100%. - Theo quy mô: Hình thành 3 loại KCN: lớn, vừa và nhá. Các chỉ tiêu phân bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng.
Các KCN lớn được thành lập phải có quyết Luan van 8 định của Thủ tướng Chính phủ. Các KCN vừa và nhá thuộc quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố. Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng các KCN vừa và nhá để sớm khai thác có hiệu quả. - Theo trình độ kỹ thuật: Có thể phân biệt + Các KCN bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều.
+ Các KCN cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũi nhọn như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v. làm đầu tàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội dài hạn. - Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm: + Các KCN chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước. + Các KCN hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước và nước ngoài.
+ Các KCN chỉ gồm các doanh nghiệp, các dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài. - Theo tính chất ngành công nghiệp Có KCN chế biến nông lâm hải sản; KCN khai thác quặng, dầu khí, hóa dầu; KCN điện tử, tin học; KCN điện, năng lượng, KCN phục vụ vận tải, KCN vật liệu xây dựng v. - Theo lãnh thổ địa lý: phân chia các KCN theo ba miền Bắc, Trung, Nam, theo các vùng kinh tế xã hội (hoặc theo các vùng kinh tế trọng điểm); và theo các tỉnh thành để phục vụ cho việc khai thác thế mạnh của mỗi vùng, làm cho kinh tế xã hội của các vùng phát triển tương đối đồng đều, góp phần bảo đảm nền kinh tế quốc dân phát triển bền vững. - Phân theo quy mô diện tích các KCN: có 2 loại KCN tập trung (có quy mô từ 50 ha trở lên và KCN vừa và nhá (có quy mô dưới 50 ha) * Đặc điểm của KCN - Về không gian: là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có cư dân sinh sống.
Luan van 9 Các KCN đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào KCN, phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia. Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất nhiều ưu đãi. Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật KCN này được xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp, không phục vụ mục đích sống dân cư, kể cả người Việt Nam, người nước ngoài làm việc trong KCN. - Về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp trong KCN này là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong KCN, không có các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình sản xuất này. - Về thành lập: KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt. Để phát triển các KCN, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện, đồng bộ.
Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng chúng. - Về đầu tư cho sản xuất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong KCN, có khu vực hoặc doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất). Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt và dự án đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, trong phạm vi KCN có thể thành lập khu vực riêng bao gồm: các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (doanh nghiệp chế xuất). Luan van 10 - Về điều kiện tự nhiên: KCN thường được xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi như gần các đường giao thông, thuận tiện trong giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng biển, sân bay… Ngoài ra, các KCN còn đòi hái phải có diện tích đất khá lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp cho xây dựng các công trình công nghiệp, gần nguồn nước, có cơ sở hạ tầng thích hợp.
Do các đặc điểm này, nên quỹ đất xây dựng KCN thường lấn chiếm quỹ đất nông nghiệp và đất khu đô thị. Khi các KCN được xây dựng nhiều sẽ gây sức ép, thậm chí xung đột với nhu cầu đất của dân cư. Chính vì vậy, xây dựng các KCN phải theo quy hoạch cân đối, hài hòa hợp lý các khu đất dành cho sinh hoạt, cho nông, lâm nghiệp, thủy sản và cho các KCN tập trung. - Về kinh tế - kỹ thuật KCN KCN thường tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lượng lớn nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng và thải ra lượng chất thải khổng lồ.
Do tính tập trung sản xuất công nghiệp ở mật độ cao như vậy nên các vấn đề kinh tế - kĩ thuật của KCN trở nên rất khác biệt. * Vai trò của các KCN Trong thực tiễn hoạt động của KCN thường có các vai trò sau đây: Thứ nhất, KCN góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ người lao động. KCN là nơi có nhu cầu sử dụng lao động rất lớn phục vụ công tác sản xuất kinh doanh vì vậy KCN tập trung rất nhiều lao động làm việc qua đó góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp. Ngoài ra thông qua việc đào tạo và sử dụng lao động trong các KCN, trình độ và kỹ năng của người lao động được cải thiện.
Thứ hai, thu hút vốn đầu tư tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế: Vốn đầu tư là nhu cầu tất yếu trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. KCN hình thành và phát triển góp phần thu hút lượng lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước đóng góp quan trọng trong quá trình CNH - HĐH. Luan van 11 Thứ ba, các KCN góp phần hình thành mối liên kết giữa các địa phương và nâng cao năng lực sản xuất ở từng vùng, miền. Tầm quan trọng của KCN chính là đầu tầu tăng trưởng có tác động lan táa của nó đối với các vùng lân cận và cả nền kinh tế chứ không chỉ ở năng suất lao động hay thu nhập của người lao động tăng lên.
Thứ tư, sự phát triển các KCN đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Các KCN đã khẳng định vai trò rất quan trọng tác động và ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các khu đô thị. Chính hạt nhân từ các KCN đã hình thành các khu đô thị mới, cùng các công trình hạ tầng xã hội đã đưa mạng lưới đô thị ngày cảng mở rộng và phát triển. Thứ năm, các KCN góp phần phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước.
Để thu hút đầu tư vào KCN tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai nhanh dự án các KCN cần hoàn thiện kết cầu hạ tầng đi kèm. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào KCN phải đồng bộ, hiện đại vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào KCN mà còn kích thích sự phát triển của kinh tế địa phương nơi có KCN hoạt động. Thứ sáu, sự phát triển của các KCN thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp. Việc phát triển các KCN có tăng động lan táa đến các hoạt động dịch vụ và ngược lại, các hoạt động dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất.
Các dịch vụ như: Lĩnh vực tính dụng – ngân hàng, lĩnh vực dịch vụ bưu chính viễn thông, điện lực, dịch vụ logicstic… 1.