Tổng quan nghiên cứu

Vượn má vàng phía nam có tên khoa học là Nomascus gabriellae Thomas 1909, thuộc họ Vượn Hylobatidae, là một trong những loài thú linh trưởng đặc hữu và nguy cấp nhất của khu vực Đông Dương. Theo phân loại của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế năm 2016 và Sách đỏ Việt Nam năm 2007, loài này được xếp ở cấp Nguy cấp (EN), đồng thời được pháp luật Việt Nam bảo vệ nghiêm ngặt thuộc Nhóm IB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Phụ lục I của Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Vườn Quốc gia Cát Tiên với tổng diện tích tự nhiên 82.722,80 ha, trong đó phân khu Nam Cát Tiên thuộc tỉnh Đồng Nai chiếm 50.995,78 ha, là một trong những sinh cảnh rừng mưa nhiệt đới đất thấp quan trọng nhất còn sót lại của vùng Đông Nam Bộ, lưu giữ 1.529 loài động vật có xương sống và côn trùng.

Mặc dù các khảo sát trước đây ghi nhận Vườn Quốc gia Cát Tiên từng có khoảng 149 đàn vượn sinh sống, nhưng áp lực từ việc săn bắt động vật hoang dã, suy thoái sinh cảnh và hoạt động khai thác lâm sản trái phép đã đe dọa nghiêm trọng sự tồn vong của loài. Đề tài "Nghiên cứu tình trạng quần thể Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae Thomas 1909) tại Phân khu Nam Cát Tiên - Vườn Quốc gia Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai" được thực hiện từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017 nhằm định lượng chính xác quy mô quần thể, lập bản đồ phân bố không gian và nhận diện các mối đe dọa thực tế. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống chỉ số cơ sở về mật độ quần thể và diện tích cư trú hiệu dụng trên 6.779,57 ha sinh cảnh rừng phù hợp, làm tiền đề thiết lập các giải pháp quản lý bền vững và chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học cấp quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết phân loại học linh trưởng và sinh thái học quần thể động vật rừng nhiệt đới. Giống vượn mào Nomascus có đặc trưng di truyền với bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52 và trọng lượng cơ thể trưởng thành đạt từ 7 đến 8 kg. Về hình thái học, loài Vượn má vàng phía nam thể hiện sự dị hình giới tính rõ nét: cá thể đực có bộ lông đen tuyền với hai vệt má màu vàng cam kéo dài dưới nửa vành tai, trong khi cá thể cái có lông màu vàng nhạt chuyển dần sang be sáng cùng mảng lông đỉnh đầu màu sẫm.

Về mặt sinh thái và tập tính học, loài có đời sống hoàn toàn trên tán cây cao, di chuyển bằng phương thức đu chuyền cành đặc thù và tổ chức xã hội theo mô hình gia đình đơn phối ngẫu gồm 2 đến 4 cá thể. Vượn thiết lập và duy trì vùng lãnh thổ sống ổn định với diện tích trung bình khoảng 30 ha, tương đương bán kính hoạt động 500 m. Cơ chế thông tin liên lạc và bảo vệ lãnh thổ được thực hiện thông qua tập tính hót đồng ca (duet) giữa cá thể đực và cái hoặc hót đơn lẻ (solo) vào sáng sớm, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc ứng dụng lý thuyết âm sinh học trong giám sát quần thể hoang dã.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua hai kênh chính: phỏng vấn chuyên sâu có cấu trúc đối với lực lượng kiểm lâm tại 7 trạm quản lý (Đà Cộ, Bầu Sấu, Đắc Lua, Đa Bông Cua, Đăng Hà, Khe Thơi, Đất Đỏ) cùng cộng đồng địa phương, kết hợp khảo sát thực địa bằng phương pháp âm sinh học tại các điểm nghe cố định. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 36 điểm nghe đại diện, được bố trí thành các cụm tam giác từ 3 đến 4 điểm với cự ly cách nhau 400 đến 500 m, bao phủ trên diện tích sinh cảnh phù hợp là 6.779,57 ha. Bán kính nghe tối đa được xác định thực tế là 1.300 m do địa hình Nam Cát Tiên tương đối bằng phẳng với độ cao dao động dưới 350 m.

Thời gian khảo sát diễn ra liên tục từ 5h00 đến 9h00 sáng trong 3 ngày liên tiếp tại mỗi điểm nghe trong giai đoạn tháng 7 đến tháng 8 năm 2016. Dữ liệu âm thanh ghi nhận góc phương vị, thời điểm hót, cấu trúc âm thanh và ước lượng cự ly. Vị trí chính xác của các đàn vượn được xác định bằng phương pháp giao hội điểm trên phần mềm MapInfo 10.5 kết hợp công cụ MapCAD. Lý do lựa chọn mô hình toán học của Vũ Tiến Thịnh và Rawson (2011) nhằm khắc phục sai số bỏ sót đàn vượn không cất tiếng hót thông qua áp dụng xác suất phát hiện hàng ngày là 0,463 và hệ số hiệu chỉnh xác suất hót tích lũy sau 3 ngày theo dõi là 0,85, kết hợp quy chuẩn kích thước đàn trung bình 3,5 cá thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận sự xuất hiện của Vượn má vàng phía nam tại 35 trên tổng số 36 điểm điều tra thực địa, đạt tỷ lệ hiện diện 97,22%. Tổng số lượt ghi nhận tiếng hót trực tiếp là 78 lượt, trong đó phần lớn các đàn cất tiếng hót tập trung vào khung giờ từ 5h30 đến 7h00 sáng, với trường hợp sớm nhất được ghi nhận lúc 5h10 và muộn nhất vào 8h15. Cấu trúc đàn ghi nhận thông qua âm thanh cho thấy kiểu ghép đôi 1 đực kết hợp 1 cái chiếm ưu thế vượt trội với 82,05% tổng số đàn phát hiện, trong khi các cá thể đực đơn lẻ hót solo chiếm 15,38% và các đàn có từ 3 cá thể cất tiếng hót trở lên chỉ chiếm 2,57%.

Sau khi phân tích giao hội không gian và loại trừ hiện tượng trùng lặp giữa các điểm nghe lân cận, nghiên cứu đã xác định được chính xác 49 đàn vượn định cư trong vùng khảo sát 6.779,57 ha. Dựa trên hệ số hiệu chỉnh xác suất hót 0,85, số đàn vượn thực tế hiện diện trong khu vực điều tra ước tính đạt 57,65 đàn, tương đương 201,77 cá thể. Mật độ quần thể tại khu vực nghe thấy đạt 0,85 đàn/km² và 2,98 cá thể/km². Khi ngoại suy trên toàn bộ 37.892,72 ha diện tích sinh cảnh rừng thích hợp của phân khu Nam Cát Tiên, quy mô quần thể ước tính đạt khoảng 322 đàn, tương ứng 1.127 cá thể vượn.

Thảo luận kết quả

Kết quả ước tính cho thấy phân khu Nam Cát Tiên hiện là nơi lưu giữ một trong những quần thể Vượn má vàng phía nam lớn nhất và quan trọng nhất tại Việt Nam. Khi so sánh với các khu bảo tồn lân cận, quy mô 322 đàn tại Nam Cát Tiên vượt trội hơn hẳn so với Vườn Quốc gia Bù Gia Mập (ước tính 124 đàn với khoảng 400 cá thể) và Vườn Quốc gia Chư Yang Sin (ước tính 170 đàn). Mật độ 0,85 đàn/km² phản ánh chất lượng sinh cảnh rừng thường xanh và rừng hỗn giao gỗ tre nứa tại đây vẫn duy trì được độ che phủ cao (trên 90% diện tích tự nhiên có rừng) và nguồn thức ăn dồi dào từ thảm thực vật nhiệt đới giàu dinh dưỡng trên nền đất bazan chiếm gần 60% diện tích.

Trong các báo cáo khoa học, dữ liệu về thời gian hót trong ngày được mô tả trực quan qua biểu đồ phân bố tần suất hình chuông lệch phải, phản ánh nhịp sinh học gắn liền với hoạt động kiếm ăn đầu ngày. Các bảng số liệu tổng hợp (như Bảng 4.1 và Bảng 4.2 trong luận văn) minh chứng rõ ràng sự phân hóa mật độ: vượn tập trung dày đặc tại các khu vực rừng giàu và rừng trung bình xa khu dân cư như Đắc Lua, Bầu Sấu, Khe Thơi, nhưng suy giảm mạnh ở các sinh cảnh gần đường mòn du lịch và các vùng ven sông giáp ranh đất canh tác nông nghiệp. Điều này chỉ ra rằng tác động nhân sinh như săn bẫy bằng dây cáp, khai thác gỗ cục bộ và tiếng ồn thuyền máy ven sông Đồng Nai đang trực tiếp làm phân mảnh vùng sống của loài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phân tích khoa học về tình trạng quần thể và áp lực sinh cảnh, luận văn đưa ra 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm bảo tồn bền vững loài Vượn má vàng phía nam tại Vườn Quốc gia Cát Tiên:

Thứ nhất, tăng cường công tác thực thi pháp luật và tuần tra rừng chuyên sâu. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Tiên cần chỉ đạo các Trạm Kiểm lâm Đắc Lua, Bầu Sấu, Khe Thơi và Đất Đỏ tăng 100% tần suất tuần tra định kỳ tại các tiểu khu trọng điểm, ứng dụng công nghệ SMART để lập bản đồ điểm nóng săn bắt, tháo gỡ triệt để các loại bẫy dây, bẫy kẹp và tịch thu súng săn tự chế, hướng tới mục tiêu giảm 85% các vụ xâm hại động vật hoang dã trong giai đoạn 2017 - 2022.

Thứ hai, thiết lập hành lang đa dạng sinh học và bảo vệ sinh cảnh lõi. Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia cần phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Nai duy trì nghiêm ngặt 17.250,34 ha diện tích rừng giàu và rừng trung bình, đồng thời phục hồi các dải rừng nghèo kết nối giữa phân khu Nam Cát Tiên với Tây Cát Tiên và Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Di tích Vĩnh Cửu nhằm tránh hiện tượng suy thoái di truyền do cô lập quần thể.

Thứ ba, triển khai các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng. Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế chủ trì tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền pháp luật bảo vệ linh trưởng cho người dân tại 6 xã vùng đệm trọng điểm gồm Đắc Lua, Tà Lài, Nam Cát Tiên, Phú Lập, Đăng Hà và Đồng Nai, cam kết 100% hộ dân ký cam kết không tham gia săn bắn và tiêu thụ thịt thú rừng.

Thứ tư, hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững và đồng quản lý rừng. Chính quyền địa phương các huyện Tân Phú, Định Quán phối hợp với Ban Quản lý Vườn đẩy mạnh giao khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ giống cây trồng nông - lâm kết hợp, phát triển các tổ hợp tác du lịch sinh thái cộng đồng tại buôn làng dân tộc thiểu số Châu Mạ, X’Tiêng nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc kinh tế vào tài nguyên rừng tự nhiên.

Thứ năm, đa dạng hóa nguồn tài chính và tăng cường hợp tác nghiên cứu. Thu hút các nguồn vốn từ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) cùng các tổ chức bảo tồn quốc tế để nâng cấp Trung tâm cứu hộ linh trưởng Cát Tiên, duy trì chương trình giám sát âm sinh học định kỳ 2 năm một lần từ năm 2017 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho 4 nhóm đối tượng sau:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý, kiểm lâm viên tại các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên có phân bố linh trưởng. Công trình cung cấp quy trình chuẩn hóa về thiết kế mạng lưới điểm nghe, cách thức ghi chép nhật trình âm thanh và phương pháp giao hội tọa độ thực địa, giúp các đơn vị tự triển khai điều tra quần thể linh trưởng mà không tốn kém chi phí trang thiết bị phức tạp.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn sinh thái và âm sinh học động vật hoang dã. Nghiên cứu mang lại cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về tập tính âm học của giống Nomascus, cung cấp các thông số toán học về xác suất phát hiện (0,463) và hệ số hiệu chỉnh đàn (0,85) làm tài liệu đối sánh cho các công trình nghiên cứu linh trưởng tại khu vực Đông Nam Á.

Nhóm thứ ba là các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng các nhà hoạch định chính sách bảo tồn. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch phân khu chức năng rừng đặc dụng, thiết lập hạn mức bảo tồn loài ưu tiên và phân bổ ngân sách cho các chương trình phát triển vùng đệm.

Nhóm thứ tư là học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Lâm học, Sinh học và Quản lý Môi trường. Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về cấu trúc nghiên cứu học thuật lâm nghiệp, từ phương pháp tiếp cận điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội trên diện tích 50.995,78 ha đến kỹ thuật xử lý số liệu không gian trên phần mềm MapInfo.

Câu hỏi thường gặp

Loài Vượn má vàng phía nam có đặc điểm sinh học và tập tính gì nổi bật? Vượn má vàng phía nam sống hoàn toàn trên cây theo chế độ một vợ một chồng trong các đàn nhỏ 2 đến 4 cá thể. Thức ăn chủ yếu là quả chín và chồi non. Loài có tập tính đánh dấu lãnh thổ rộng khoảng 30 ha bằng những bài hót vang xa vào sáng sớm từ 5h00 đến 8h00.

Tại sao phương pháp điều tra âm sinh học lại được ưu tiên lựa chọn cho loài vượn? Vượn di chuyển rất nhanh nhẹn trên các tầng tán rừng cao và vô cùng cảnh giác trước con người nên quan sát trực tiếp rất khó khăn. Tiếng hót của vượn có âm lượng rất lớn, truyền xa hơn 1.300 m trong điều kiện rừng tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi để xác định số lượng và vị trí đàn thông qua điểm nghe cố định.

Hệ số hiệu chỉnh xác suất hót 0,85 trong nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học gì? Trong thực tế khảo sát, không phải đàn vượn nào cũng cất tiếng hót hàng ngày (xác suất hót một ngày đạt khoảng 0,463). Việc áp dụng hệ số hiệu chỉnh 0,85 tương ứng xác suất phát hiện lũy tích qua 3 ngày theo dõi giúp bù đắp số đàn bị bỏ sót, đảm bảo ước tính quy mô 322 đàn tại Nam Cát Tiên đạt độ tin cậy cao.

Những yếu tố nhân sinh nào đang đe dọa trực tiếp đến quần thể vượn tại Nam Cát Tiên? Quần thể vượn chịu tác động lớn nhất từ nạn đặt bẫy dây ngầm dưới đất và bẫy treo trên cây, hoạt động đốn hạ cây gỗ quý tại các tiểu khu Khe Thơi, tình trạng hút cát gây sạt lở ven sông Đồng Nai và sự xáo trộn sinh cảnh do các tuyến đường mòn du lịch đi xuyên qua vùng lõi.

Cần bao nhiêu nguồn lực để duy trì giám sát định kỳ quần thể vượn tại Vườn Quốc gia? Chương trình giám sát định kỳ cần mạng lưới khoảng 36 điểm nghe, đội ngũ 7 đến 10 cán bộ điều tra am hiểu âm sinh học, trang bị máy định vị GPS, địa bàn quang học và phần mềm GIS, thực hiện khảo sát tập trung vào mùa khô từ 2 đến 3 năm một lần.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định chính xác sự hiện diện của 49 đàn Vượn má vàng phía nam tại 35/36 điểm nghe thực địa trên diện tích khảo sát 6.779,57 ha ở phân khu Nam Cát Tiên.
  • Ứng dụng thành công mô hình âm sinh học có hiệu chỉnh xác suất hót, ước tính quy mô toàn phân khu đạt khoảng 322 đàn với 1.127 cá thể, khẳng định Nam Cát Tiên là quần thể vượn trọng yếu nhất Việt Nam.
  • Lập bản đồ phân bố không gian và xác định cấu trúc đàn ổn định với 82,05% là các cặp đực - cái ghép đôi hoàn chỉnh, phản ánh chất lượng sinh thái tốt của các trạng thái rừng giàu trên nền đất bazan.
  • Nhận diện toàn diện các mối đe dọa chính từ nạn săn bẫy, khai thác gỗ trái phép và áp lực kinh tế - xã hội từ 33 thành phần dân tộc sinh sống tại các xã vùng đệm giáp ranh.
  • Đóng góp hệ thống 5 giải pháp bảo tồn đồng bộ từ thực thi pháp luật, phục hồi hành lang rừng, truyền thông cộng đồng đến đa dạng hóa tài chính với mốc triển khai cấp bách trong giai đoạn 2017 - 2025.

Hãy cùng chung tay bảo vệ loài Vượn má vàng phía nam và di sản thiên nhiên Vườn Quốc gia Cát Tiên bằng cách cam kết không tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã và ủng hộ các sáng kiến bảo tồn sinh cảnh rừng nhiệt đới.