Nghiên cứu tập tính chọn ăn của loài vooc mông trắng trachypithecus delacouri osgood 1932 trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm cứu hộ thú linh trưởng cúc phương

Chuyên khảo phân tích Nghiên cứu tập tính chọn ăn của loài vooc mông trắng trachypithecus delacouri osgood 1932 trong, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

52
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát về Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương

1.2. Tổng quan các nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của loài Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt ở Việt Nam và tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

3.2. Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

4.1. Hiện trạng và kỹ thuật cho ăn, chăm sóc Voọc mông trắng tại TTCHTLT Cúc Phương

4.2. Hiện trạng nuôi nhốt Voọc mông trắng tại TTCHTLT Cúc Phương

4.3. Kỹ thuật cho ăn và chăm sóc Voọc mông trắng tại TTCHTLT Cúc Phương

4.4. Đánh giá mức độ sử dụng thức ăn hàng ngày của Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt tại TTCHTLT Cúc Phương

4.5. Thành phần loài thức ăn và các loại thức ăn ưa thích của Voọc mông trắng tại TTCHTLT Cúc Phương

4.6. Khẩu phần ăn của Voọc mông trắng tại TTCHTLT Cúc Phương

4.7. Mô thức chọn ăn của Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt tại TTCHTLT Cúc Phương

4.7.1. Mô thức chọn ăn của cá thể đực trưởng thành

4.7.2. Mô thức chọn ăn của cá thể cái trưởng thành

4.7.3. Mô thức chọn ăn của cá thể bị khuyết tật

4.8. Định hướng giải pháp cải tiến kĩ thuật cho ăn và chăm sóc Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt tại TTCHTLT Cúc Phương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tập tính ăn của voọc mông trắng

Nghiên cứu tập tính ăn của loài voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) tại Cúc Phương là một phần quan trọng trong công tác bảo tồn động vật hoang dã. Loài voọc này được xếp vào danh sách động vật nguy cấp và cần được bảo vệ. Việc hiểu rõ tập tính ăn của chúng sẽ giúp cải thiện phương pháp chăm sóc và bảo tồn tại Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương.

1.1. Giới thiệu về voọc mông trắng và môi trường sống

Voọc mông trắng là loài đặc hữu của Việt Nam, sống chủ yếu trong các khu rừng núi đá vôi. Môi trường sống của chúng đang bị đe dọa bởi sự phát triển của con người và biến đổi khí hậu.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu tập tính ăn

Nghiên cứu tập tính ăn giúp xác định các loại thức ăn ưa thích và nhu cầu dinh dưỡng của voọc mông trắng, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả hơn.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tập tính ăn

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc nghiên cứu tập tính ăn của voọc mông trắng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là thiếu dữ liệu về hành vi ăn uống của chúng trong điều kiện nuôi nhốt.

2.1. Thiếu dữ liệu về hành vi ăn uống

Nhiều nghiên cứu trước đây chưa cung cấp đủ thông tin về các loại thức ăn mà voọc mông trắng ưa thích trong điều kiện nuôi nhốt, dẫn đến khó khăn trong việc xây dựng khẩu phần ăn hợp lý.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường nuôi nhốt

Điều kiện nuôi nhốt có thể ảnh hưởng đến tập tính ăn của voọc mông trắng, khiến chúng không thể chọn lựa thức ăn như trong môi trường tự nhiên.

III. Phương pháp nghiên cứu tập tính ăn của voọc mông trắng

Để nghiên cứu tập tính ăn của voọc mông trắng, các phương pháp quan sát và thu thập dữ liệu đã được áp dụng. Các nhà nghiên cứu đã theo dõi hành vi ăn uống của chúng trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương.

3.1. Phương pháp quan sát hành vi

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành quan sát trực tiếp hành vi ăn uống của voọc mông trắng, ghi chép lại các loại thức ăn mà chúng chọn lựa.

3.2. Phân tích dữ liệu thu thập

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để xác định các loại thức ăn ưa thích và mô thức chọn ăn của voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy voọc mông trắng có sự chọn lọc thức ăn rất rõ ràng. Chúng ưa thích các loại lá non và chồi cây, điều này có thể được áp dụng để cải thiện khẩu phần ăn tại Trung tâm cứu hộ.

4.1. Thành phần thức ăn ưa thích

Voọc mông trắng thường chọn các loại lá nhỏ, non và giòn như Sồi tía, Mần tang, và Keo dậu. Những loại thức ăn này cần được cung cấp đầy đủ trong khẩu phần ăn hàng ngày.

4.2. Đề xuất cải tiến kỹ thuật cho ăn

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đề xuất cải tiến kỹ thuật cho ăn để đảm bảo voọc mông trắng nhận đủ dinh dưỡng và phát triển khỏe mạnh.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu tập tính ăn của voọc mông trắng tại Cúc Phương không chỉ giúp bảo tồn loài này mà còn góp phần vào việc nâng cao nhận thức về bảo vệ động vật hoang dã. Tương lai của nghiên cứu cần tiếp tục được mở rộng để đảm bảo sự sống còn của loài voọc này.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn

Bảo tồn voọc mông trắng là một nhiệm vụ cấp bách, cần sự hợp tác của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện môi trường sống và điều kiện nuôi nhốt để đảm bảo voọc mông trắng có thể phát triển bền vững.

15/07/2025
Nghiên cứu tập tính chọn ăn của loài vooc mông trắng trachypithecus delacouri osgood 1932 trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm cứu hộ thú linh trưởng cúc phương

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương TTCHTLT Cúc Phương trực thuộc Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Cúc Phương; được thành lập theo quyết định số 2585/QĐ- BNN-TCCB, ngày 27 tháng 9 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Hiện nay, Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương đang cứu hộ và nuôi dưỡng trên 160 cá thể của 15 loài &phân loài thú Linh trưởng quý hiếm của Việt Nam như: Vọoc đầu trắng Cát Bà, Voọc mông trắng, Vọoc chà vá, Vượn,. Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là loài đầu tiên được cứu hộ và chăm sóc tại trung tâm, cứu hộ và phục hồi quần thể của loài Voọc này cũng là mục tiêu chính khi đề xuất thành lập trung tâm.

TTCHTLT Cúc Phương có khu nuôi thả bán hoang dã gồm 7 ha diện tích đồi rừng nhằm giúp các cá thể linh trưởng thích nghi với môi trường sống tự nhiên trước khi được thả về với nơi phân bố của chúng. Vài năm trước, đã có kẻ xấu đột nhập khu vực này nhằm bắt trộm động vật nhưng không thành. Kể từ đó nhân viên cán bộ trung tâm đã mác hàng rào điện cảm ứng để bảo vệ khu nuôi thả bán hoang dã. TTCHTLT Cúc Phương có chức năng, nhiệm vụ: chăm sóc, cứu hộ các loài linh trưởng quý hiếm của Việt Nam bị buôn bán trái phép hoặc bị thương trên toàn quốc, nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và thả chúng về với môi trường sống tự nhiên, gây giống và nghiên cứu đối với các loài vượn, cu li và voọc của Việt Nam.

Là trung tâm lớn nhất Đông Nam Á, TTCHTLT Cúc Phương nhận được sự quan tâm và ủng hộ của các tổ chức quốc tế, trong đó, Đại sứ quán Anh, Hà Lan, New Zealand, các quỹ hỗ trợ của Mỹ, Đức. Năm 2019, trung tâm tiếp tục chăm sóc 181 cá thể của 15 loài linh trưởng quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam và khu vực Đông Dương. Trong năm đã cứu hộ 17 cá thể, sinh sản 11 cá thể, tái thả 8 cá thể và chết 15 cá thể. Cuối tháng 11 năm 2019, Vườn đã tiếp nhận và cứu hộ thành công 2 cá thể hổ (Pathera tigris) hơn một tuần tuổi bị những kẻ buôn bán ĐVHD bỏ rơi ở Hà Tĩnh.

3 Nguồn động vật được tiếp nhận cứu hộ từ trước đến nay là chủ yếu từ các cơ quan thi hành pháp luật như: VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, Hạt kiểm lâm huyện Phú Lộc (Thừa Thiên Huế), một số tỉnh thành khác Quảng Ngãi, Kon Tum…Ngoài ra, một số cá thể động vật được người dân địa phương: huyện Tơ Mơ Rông (Kon Tum),… tự nguyện giao nộp. Tổng quan các nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của loài Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt ở Việt Nam và tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương. Những năm trước thập kỷ 90, Voọc mông trắng ít được nghiên cứu. Từ năm 1993, sau khi thành lập trung tâm cứu hộ các loài thú Linh trưởng nguy cấp ở VQG Cúc Phương, Voọc mông trắng đã được nuôi và nghiên cứu tương đối chi tiết, cả trong điều kiện nuôi nhốt lẫn ngoài thực địa (Phạm Nhật, 2002).

Từ năm 1993 đến nay, chưa có cơ sở bảo tồn ngoại vi nào ngoài Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương nuôi nhốt loài Voọc mông trắng. Voọc mông trắng có bộ lông dày rậm, màu đen tuyền. Lông đầu mọc dựng đứng tạo thành mào lông hình chóp hơi hướng về phía trước, màu đen. Khuôn mặt tương đối bằng, mặt trụi lông.

Da mặt, lòng bàn tay và bàn chân màu đen. Mắt nâu đen. Mõm không dô ra phía trước như các loài khỉ. Lông hai bên má thưa, bông như tơ, mọc tua ngang và màu trắng xám.

Vệt lông trắng trên má rộng vượt lên phía trên vành tai và quàng ra sau gáy. Lông vùng mông và đùi trắng. Đuôi dài, lông dầy, sợi lông mọc vuông góc với đuôi và màu đen. Nhìn bên ngoài, đuôi của Voọc mông trắng trông giống như củ cà rốt.

Màu lông của con cái có sự thay đổi, bình thường màu trắng và chuyển thành màu nâu vàng, nâu thẫm rất rõ trong thời kỳ mang thai và nuôi con (Phạm Nhật, 2002). Kính thước đo trên 02 mẫu: Dài đầu và thân 475-580mm, dài đuôi 725- 855mm, dài bàn chân sau 150-180mm, cao tai 44mm, Trọng lượng 7,5kg (Phạm Nhật, 2002). Tính đẳng cấp của đàn Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt được thể hiện khá rõ. Khi người mang thức ăn lá vào, chỉ có con đầu đàn luôn đến đón lấy.

4 Các con khác cũng rất muốn đến cầm bó lá nhưng chúng tỏ ra sợ sệt. Con đầu đàn bao giờ cũng giành lấy bó lá mà nó thích ăn trước (Phạm Nhật, 2002). Theo dõi ở Trung tâm cứu hộ các loài linh trưởng nguy cấp VQG Cúc Phươg đã ghi nhận được Voọc mông trắng ăn 137 loài thực vật thuộc 40 họ. Trong số 137 loài thực vật làm thức ăn, Voọc mông trắng ăn chồi lá 133 loài, chỉ ăn quả của 13 loài, củ 3 loài và thân 2 loài.

Mỗi cá thể thường ngồi ăn ở một bó lá. Giữa các cá thể trong chuồng nuôi có sự tranh chấp thức ăn và ưu thế luôn thuộc về con khỏe. Phần lớn Voọc thích ăn những lá nhỏ, non, giòn như Sồi tía (Spadium discolor), Mần tang (Litsea rotindifolia), Keo dậu (Leuceana leucocephala), Ba gạc (Rawvolfia cambodiana), Kháo (Machilus odoratisma), De (Cinamomum litseafolium). Voọc mông trắng cũng rất thích ăn một số loại củ như Khoai lang, cà rốt, củ Đậu.

Lượng thức ăn bình quân trong ngày là 1184 gram/cá thể, bằng 16,91% trọng lượng cơ thể. Trong ba bữa ăn (sáng, trưa, tối), thì lượng thức ăn bữa tối được Voọc mông trắng tiêu thụ nhiều nhất (401,06 gram/cá thể), lượng thức ăn buổi sáng là 373,37 gram/cá thể và bữa trưa là: 383,68 gram/cá thể (Phạm Nhật, 2002). Voọc mông trắng sống theo bầy đàn. Số lượng cá thể thường biến đổi từ 5.

Trong đàn luôn có một con đầu đàn là cá thể đực trưởng thành, to khỏe ( bộ khoa học công nghệ 2007) Nguyễn Hữu Hiến (2001) chỉ ra rằng, Voọc mông trắng dành tới 42% cho hoạt động ngủ tối, sau đó đến thời gian dành cho ngủ trưa, 18%. Thời gian ăn uống chiếm tới 17% và chỉ có 8% là dành cho di chuyển, còn 15% thời gian chúng dành cho các hoạt động khác( Nguyễn Hữu Hiến (2001) Thức ăn Voọc mông trắng ăn lá, chồi non và quả cây rừng. Không ăn động vật. Nghiên cứu thức ăn tại Trung tâm cứu hộ thủ Linh trưởng Cúc Phương đã ghi nhận được Voọc mông trắng ăn 204 loài thực vật thuộc 57 Họ.

Trong 204 loài thực vật làm thức ăn, Voọc mông trắng ăn chồi lá 203 loài, ăn họa của 16 loài, quả của 13 loài, củ 3 loài và ăn vỏ của 10 loài. Nhu cầu thức ăn trung bình ngày là 1184g 5 (bằng 16.91% trọng lượng cơ thể) và phụ thuộc vào giới tính, tuổi và thời tiết (chủ yếu là nhiệt độ) trong ngày. Lượng nước uống trong ngày biến động từ 400 đến 500 ml/con. Voọc mông trắng sống chủ yếu ở rừng cây gỗ trên núi đá vôi.

Tuy nhiên do sự chia cắt, nên Voọc mông trắng sống cả trong những sinh cánh rừng nghèo, thậm chí chỉ có dây leo bụi rậm. Thích hợp là rừng ở chân và sườn núi nơi có tầng tán rừng cao trên 10m. Không sống nơi có tầng tán thấp dưới 5m. Mùa nóng, Voọc mông trắng ngủ trên vách đá, mùa lạnh ngủ trong hang ( bộ khoa học công nghệ 2007) Sinh sản Dẫn liệu sinh sản Voọc mông trắng còn ít.

Quan sát tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương cho thấy hoạt động giao phối của Voọc mông trắng thường diễn ra vào hai thời điểm sáng sớm và sau buổi ăn chiều. Thời gian giao phối kéo dài 15 đến 30 giây (UBND huyện Gia Viễn 2014). Thời gian mang thai trung bình 196 ngày. Mùa sinh sản tập trung từ tháng 2 đến tháng 8 ( bộ khoa học công nghệ 2007) Mỗi năm Voọc để một lứa, mỗi lứa đẻ một con, con sơ sinh nặng 350 - 500g (Tilo Nadler, 1994).

Bộ lông con sơ sinh màu vàng. Voọc trưởng thành sinh dục sau 5 năm tuổi ( bộ khoa học công nghệ 2007). Tình trạng bảo tồn Voọc mông trắng ở Việt Nam Theo Nghị định số 06/2015/NĐ-CP (chính phủ nước Cổng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2019), Voọc mông trắng có tên trong phụ lục IB (Nhóm các loài động vật rừng), Sách Đỏ Việt Nam (2007) ( bộ khoa học công nghệ 2007) và Danh lục đỏ IUCN (2014) đều xếp Voọc mông trắng ở mức rất nguy cấp – mức CR (Critically Endangered). Ngoài ra, Voọc mông trắng còn có tên trong Nghị định số 160/2013/NĐ-CP (chính phủ nước Cổng hòa xã hổi chủ nghĩa 2013) và Phụ lục 01 trong thông tư 04/2017/TT-BNN&PTNT (bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn 2017).

6 Các mối đe dọa đến Voọc mông trắng và sinh cảnh sống của chúng | Voọc mông trắng là loại được xếp vào danh sách những loài Linh trưởng nguy cấp nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Cho đến nay, số lượng cá thể Voọc mông trắng còn lại ngoài tự nhiên rất ít nhưng các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh sống vẫn không dừng lại. Nguyên nhân chính dẫn đến việc suy giảm quần thể đó là tác động từ việc săn bắn trái phép và chặt phá rừng bừa bãi, | làm mất sinh cảnh sống và nguồn thức ăn của loài. Việc mất nguồn thức ăn của loài đã dẫn đến việc chia cắt các quần thể lớn tạo thành các tiểu quần thể nhỏ.

Một mối đe dọa khác đến Voọc mông trắng đó là môi trường sống của chúng bị chia cắt một cách nghiêm trọng. Dân số tăng nhanh và số lượng khách du lịch đến thăm quan cũng không ngừng tăng lên, việc ô nhiễm môi trường và sử dụng không bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nhóm Voọc bị chia nhỏ và mắc kẹt giữa những con đường mới, những khu dân cư, và các khu sản xuất nông nghiệp. Các cá thể bị giới hạn vùng sống và không còn sự di chuyển sang các nhóm khác dẫn đến hạn chế việc lựa chọn bạn tình làm giảm khả năng sinh sản cũng như sự đa dạng về các tổ hợp gen; cùng với đó là khả năng giao phối cận huyết sẽ làm tăng nguy cơ của các tác động tiêu cực đến loài trong tương lai gần. Do đó cần có các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt để bảo tồn loài Voọc mông trắng tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng.

7 CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tập tính ăn của voọc mông trắng tại Cúc Phương" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thói quen ăn uống của loài voọc mông trắng, một trong những loài động vật quý hiếm tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về chế độ dinh dưỡng và môi trường sống của chúng, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn loài này trong hệ sinh thái. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về cách thức mà voọc mông trắng tương tác với môi trường xung quanh, từ đó nâng cao nhận thức về bảo tồn động vật hoang dã.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về các chủ đề liên quan, hãy tham khảo tài liệu Tài liệu lớp đại học động vật thủy sinh, nơi cung cấp thông tin về các loài động vật thủy sinh và sự đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ y học nghiên cứu độc tính cấp bán trường diễn và tác dụng giảm đau của dịch chiết húng quế ocimum basilicum l lamiaceae trên động vật thực nghiệm cũng có thể cung cấp thêm thông tin về nghiên cứu trên động vật, giúp bạn hiểu rõ hơn về các tác động của môi trường đến sức khỏe động vật. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của sinh học và bảo tồn.