Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri Osgood, 1932) thuộc họ Khỉ voọc (Cercopithecidae), bộ Linh trưởng (Primates), là một trong bảy loài và phân loài thú linh trưởng đặc hữu của Việt Nam. Đây là loài có giá trị bảo tồn cao, hiện được xếp ở mức Rất nguy cấp (CR - Critically Endangered) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN, 2021). Đồng thời, loài này được bảo vệ nghiêm ngặt theo các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 160/2013/NĐ-CP, Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thuộc nhóm IB.

Từ năm 1993, Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng (TTCHTLT) nguy cấp tại Vườn quốc gia (VQG) Cúc Phương đã được thành lập với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ Hội Động vật Frankfurt (Đức). Phục hồi quần thể Voọc mông trắng là mục tiêu cốt lõi khi đề xuất thành lập trung tâm. Mặc dù công tác bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) đã được thực hiện nhiều năm, kết quả phục hồi quần thể và tái thả về tự nhiên vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu hụt cơ sở khoa học về tập tính dinh dưỡng, quy luật lựa chọn thức ăn và khả năng thích ứng của các cá thể trong môi trường nuôi nhốt. Ngoài tự nhiên, Voọc mông trắng chịu tác động của chọn lọc tiến hóa để tối ưu hóa năng lượng (năng lượng thu nạp từ thức ăn cao hơn năng lượng tiêu hao khi tìm kiếm). Khi nuôi nhốt, điều kiện sống thay đổi do nguồn thức ăn được cung cấp định sẵn, dẫn đến những biến đổi trong tập tính chọn ăn và vận động.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý tài nguyên rừng của sinh viên Vừ A Lông (Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, năm 2022) tập trung giải quyết các mục tiêu và nội dung nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu chung: Xác định quy luật chọn ăn của loài Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt tại TTCHTLT Cúc Phương; từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho công tác chăm sóc và bảo tồn ngoại vi loài này.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định phổ thức ăn của loài Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt tại TTCHTLT Cúc Phương.
    2. Xác định mô thức chọn ăn và tính thích ứng của từng cá thể trong các điều kiện cho ăn khác nhau tại trung tâm.
    3. Đề xuất giải pháp cải tiến kỹ thuật cho ăn và chăm sóc loài Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt.
  • Nội dung nghiên cứu:
    1. Điều tra hiện trạng nuôi nhốt Voọc mông trắng và kỹ thuật cho ăn tại TTCHTLT Cúc Phương.
    2. Điều tra, đánh giá mức độ sử dụng thức ăn của Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt.
    3. Nghiên cứu mô thức chọn ăn của từng cá thể Voọc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt.
  • Đối tượng nghiên cứu: Loài Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) và tập tính chọn ăn của chúng trong môi trường nuôi nhốt tại TTCHTLT Cúc Phương.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi nội dung: Khảo sát các điều kiện nuôi nhốt, danh mục thức ăn ưa thích và phân loại đối tượng theo dõi thành con đực trưởng thành, con cái trưởng thành và cá thể thương tật/khuyết tật tại hai chuồng nuôi nhốt thực nghiệm (chuồng 1A và chuồng 10A).
    • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thực địa từ ngày 21/3/2022 đến hết tháng 5/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên cơ sở lý thuyết sinh thái học dinh dưỡng linh trưởng, lý thuyết tối ưu hóa tìm kiếm thức ăn (Shang Yu Chang, 2018), cùng hệ thống văn bản pháp lý và các nghiên cứu chuyên sâu về Voọc mông trắng của Phạm Nhật (2002), Tilo Nadler (1994) và Nguyễn Hữu Hiến (2001).

Tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra lâm sinh gồm:

  1. Phương pháp kế thừa tài liệu: Tổng hợp tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội VQG Cúc Phương, các số liệu khí tượng thủy văn, hiện trạng quản lý và các công trình nghiên cứu sinh vật học linh trưởng đã công bố.
  2. Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu điều tra (Mẫu biểu 01) phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc tại TTCHTLT Cúc Phương để thu thập số liệu về cơ cấu đàn, lịch sử tiếp nhận, quy trình chế biến thức ăn, thời gian cho ăn và kỹ thuật vệ sinh chuồng trại.
  3. Phương pháp điều tra thực địa:
    • Theo dõi sinh khối và mức độ tiêu thụ thức ăn: Xác định khối lượng thức ăn đưa vào chuồng ($C$) và khối lượng thức ăn thừa thu gom cuối ngày gồm bó lá và cành rơi vãi ($T$). Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày ($L$) được tính theo công thức: $$L = C - T \text{ (kg)}$$
    • Đánh giá tính ưa thích và tính chủ lực của thức ăn: Sau 30 phút cho ăn, tỷ lệ tiêu thụ ($P$) được phân hạng: Rất ưa thích (+++, $P = 100%$), Ưa thích (++, $P = 90% - 95%$), Ít ưa thích (+, $P < 90%$). Tính chủ lực trong ngày được phân hạng: Chủ chốt (, $P > 75%$), Chủ đạo (, $P = 50% - 75%$), Không chủ đạo (, $P < 50%$).
    • Quan sát hành vi định kỳ (Time sampling): Theo dõi từng cá thể liên tục trong 60 phút theo chu kỳ 5 phút/lần (Mẫu biểu 03) để ghi nhận:
      • Phương thức lấy ăn: (1) Chi trước kéo cành về phía mình ăn trực tiếp; (2) Dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận thức ăn; (3) Chi trước bẻ cành mang về chỗ ngồi rồi mới bứt lá ăn.
      • Phương thức vận động khi chọn ăn: (1) Ngồi im một chỗ chọn bó lá gần nhất; (2) Di chuyển liên tục giữa các bó lá; (3) Lúc di chuyển, lúc ngồi im.
      • Đo đạc cự ly tương đối giữa các cá thể khi ăn (m).
  4. Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm tần suất xuất hiện hành vi và tổng hợp thành hệ thống bảng biểu so sánh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này khái quát lịch sử hình thành TTCHTLT Cúc Phương (thành lập theo Quyết định số 2585/QĐ-BNN-TCCB ngày 27/9/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn). Trung tâm hiện cứu hộ trên 160 cá thể của 15 loài và phân loài linh trưởng quý hiếm, sở hữu khu nuôi thả bán hoang dã rộng 7 ha có rào điện cảm ứng. Năm 2019, trung tâm chăm sóc 181 cá thể, cứu hộ thành công 17 cá thể, sinh sản 11 cá thể, tái thả 8 cá thể và ghi nhận 15 cá thể chết.

Về đặc điểm sinh vật học, Voọc mông trắng là loài ăn lá chuyên biệt; nghiên cứu của Phạm Nhật (2002) ghi nhận loài ăn 137 loài thực vật (133 loài ăn chồi lá, 13 loài ăn quả, 3 loài ăn củ, 2 loài ăn thân) với mức tiêu thụ trung bình 1.184 g/ngày (bằng 16,91% trọng lượng cơ thể). Nguyễn Hữu Hiến (2001) chỉ ra ngân sách thời gian của loài: ngủ tối chiếm 42%, ngủ trưa 18%, ăn uống 17%, di chuyển 8% và hoạt động khác 15%. Về sinh sản, thời gian mang thai trung bình 196 ngày, mùa sinh sản từ tháng 2 đến tháng 8, đẻ 1 con/lứa, con sơ sinh nặng 350 - 500 g có lông màu vàng cam và đạt độ tuổi thành thục sau 5 năm. Quần thể tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng do nạn săn bắt trái phép và chia cắt sinh cảnh sống.

Chương 2: Mục tiêu nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả trình bày chi tiết mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, 3 nội dung nghiên cứu và các bước triển khai thực nghiệm. Chương này công bố thiết kế 3 mẫu biểu thu thập dữ liệu (phỏng vấn kỹ thuật, đo lường sinh khối và định lượng tập tính quan sát), đồng thời thiết lập hệ thống tiêu chí định lượng về mức độ ưa thích, mức độ chủ lực của thực vật và các chỉ tiêu phân loại hành vi ăn uống của linh trưởng nuôi nhốt.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

VQG Cúc Phương có diện tích 22.200 ha, tọa độ địa lý từ 12º14' đến 20º24' vĩ độ Bắc, 105º29' đến 105º44' kinh độ Đông, nằm trên địa giới 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa. Khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ trung bình năm tại trạm Bống là 20,6ºC (thấp hơn trạm Đăng 1,2ºC và trạm Nho Quan 2,1ºC); lượng mưa bình quân năm đạt 2.138 mm (tháng 9 cao nhất đạt 410,9 mm); độ ẩm trung bình 90%.

Hệ thực vật Cúc Phương có ít nhất 1.944 loài thuộc 912 chi, 219 họ, 86 bộ, 7 ngành; hệ động vật có 88 loài thú, 300 loài chim, 36 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư. Khu vực vùng lõi có 8 làng với khoảng 2.200 dân (chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường), vùng đệm có 51.000 dân. Thu nhập của người dân địa phương chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp (chiếm 79%), lâm sản (chiếm 11%), đời sống còn nhiều khó khăn (nhiều hộ thiếu ăn từ 1 đến 4 tháng/năm), gây áp lực lớn lên tài nguyên rừng qua các hoạt động khai thác củi, săn bắt và chăn thả gia súc.

Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả

Hiện trạng đàn và chuồng trại nuôi nhốt

Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2022), TTCHTLT Cúc Phương đang nuôi dưỡng 11 cá thể Voọc mông trắng, phân bổ tại 2 chuồng nuôi nhốt đa phòng (chuồng 1A, chuồng 10A) và 1 khu bán hoang dã rộng 2 ha. Cả 11 cá thể đều có nguồn gốc sinh ra tại trung tâm.

Số thứ tự Cá thể Giới tính Tuổi Chuồng nuôi Tình trạng sức khỏe
1 Trưởng thành Cái 14 1A Khỏe mạnh
2 Trưởng thành Đực 21 10A Bị gù lưng từ nhỏ
3 Trưởng thành Đực 14 1A Khỏe mạnh (đực đầu đàn)
4 Trưởng thành Cái 17 Bán hoang dã Khỏe mạnh
5 Trưởng thành Cái 12 1A Khỏe mạnh
6 Trưởng thành Cái 11 10A Khỏe mạnh
7 Trưởng thành Cái 6 Bán hoang dã Khỏe mạnh
8 Trưởng thành Cái 6 Bán hoang dã Khỏe mạnh
9 Bán trưởng thành Cái 4 Bán hoang dã Khỏe mạnh
10 Con non Cái 2 Bán hoang dã Khỏe mạnh
11 Con non Đực 1 Bán hoang dã Khỏe mạnh

Quy cách chuồng nuôi nhốt: Chuồng gồm 1 ngăn to ($10 \times 5 \times 3$ m, thiết kế 3 tầng giàn leo) và 2 ngăn nhỏ ($3 \times 2,5 \times 3$ m có cửa kéo cách mặt đất 2 m). Ngăn nhỏ dùng để nhử Voọc vào bằng khoai lang trước khi nhân viên vào dọn vệ sinh và treo thức ăn ở ngăn to. Trong chuồng bố trí 5 buồng ăn (4 góc chuồng và 1 buồng treo lơ lửng ở giữa) kết hợp dây đu nhằm tránh xung đột tranh giành thức ăn.

Kỹ thuật cho ăn và thành phần loài thức ăn

Nhân viên tiến hành cắt lá 2 lần/ngày để cấp thức ăn cho 3 bữa: bữa sáng (6h30), bữa trưa (10h30) và bữa chiều (15h30). Mỗi lần đi cắt thu thập ít nhất 5 loài lá cây khác nhau; khi bó lá kết hợp từ 3 đến 5 loại lá bằng dây dài 100 cm (để thừa 30 - 40 cm để buộc lên giàn). Phần lá chưa dùng được cắm vào xô nước để bảo quản tươi.

Qua phỏng vấn quản lý, trung tâm đã sử dụng 76 loài thực vật thuộc nhiều họ để làm thức ăn cho Voọc. Trong giai đoạn theo dõi thực nghiệm, có 16 loài thực vật thường xuyên được cung cấp:

STT Tên tiếng Việt Tên khoa học Bộ phận sử dụng Mức độ ưa thích
1 Màng tang Litsea cubeba Lá non, cành non Rất ưa thích (***)
2 Hồng bì Clausena excavata Lá non Rất ưa thích (***)
3 Mò trắng Clerodendrum chinense Lá non, cành non Ít ưa thích (*)
4 Ba gạc Rauvolfia cambodiana Lá non Ưa thích (**)
5 Sếu đất Celtis tetrandra Lá non Ưa thích (**)
6 Đào Prunus persica Lá non, quả Rất ưa thích (***)
7 Khế Averrhoa carambola Lá non, cành non Rất ưa thích (***)
8 Nhò vàng Streblus macrophyllus Lá non Rất ưa thích (***)
9 Keo dậu Leucaena leucocephala Lá non Rất ưa thích (***)
10 Cọ khẹt Dalbergia assamica Lá non Ít ưa thích (*)
11 Muồng đen Cassia siamea Lá non, cành non Ưa thích (**)
12 Ba chạc Melicope pteleifolia Lá non, cành non Ít ưa thích (*)
13 Rân Bursera tonkinensis Lá non, cành non Ít ưa thích (*)
14 Kháo Machilus bombycina Lá non Ưa thích (**)
15 Dâu rừng Sloanea sinensis Lá non, cành non Ưa thích (**)
16 Bứa Garcinia spp. Lá non, cành non Ít ưa thích (*)

Khẩu phần và sinh khối tiêu thụ hàng ngày

Số liệu theo dõi sinh khối thức ăn từ ngày 26/04 đến 29/04/2022 cho thấy:

  • Chuồng 1A (3 cá thể): Cung cấp 15 kg lá/ngày (45 bó), lượng thức ăn dư thừa từ 8,2 đến 8,8 kg, lượng tiêu thụ thực tế đạt 6,2 đến 6,8 kg/ngày.
  • Chuồng 10A (2 cá thể): Cung cấp 12 kg lá/ngày (30 bó), lượng thức ăn dư thừa từ 7,1 đến 7,5 kg, lượng tiêu thụ thực tế đạt 4,5 đến 4,9 kg/ngày.
  • Trung bình một cá thể trưởng thành tiêu thụ từ 2,2 đến 2,3 kg lá tươi/ngày. Lượng thức ăn thực tế tiêu thụ luôn dưới 50% tổng lượng thức ăn đưa vào, dẫn đến lượng lá thừa rơi vãi lớn.

Mô thức chọn ăn của từng cá thể

Cá thể theo dõi Chi trước kéo cành ăn trực tiếp (%) Miệng cắn trực tiếp (%) Bẻ cành mang về chỗ ngồi (%) Ngồi im chọn bó lá gần nhất (%) Di chuyển liên tục giữa các bó (%) Lúc di chuyển lúc ngồi im (%) Cự ly cá thể (m)
Đực đầu đàn (Chuồng 1A) 53,8 27,0 19,2 55,7 22,15 22,15 2 - 8
Cái 1 (Chuồng 10A) 44,2 30,8 25,0 57,7 19,2 23,1 2 - 8
Cái 2 (Chuồng 1A) 51,0 19,2 29,8 48,0 26,9 25,1 2 - 8
Cái 3 (Chuồng 1A) 46,1 30,7 23,2 47,1 31,7 21,2 2 - 8
Đực bị gù (Chuồng 10A) 44,4 24,1 31,5 51,8 25,9 22,3 2 - 8

Mô thức chủ đạo ở tất cả cá thể là sử dụng chi trước kéo cành mang thức ăn về phía mình ăn trực tiếp (chiếm 44,2% - 53,8%) và phương thức vận động chủ đạo là ngồi im một chỗ chọn bó lá gần nhất (chiếm 47,1% - 57,7%). Khoảng cách an toàn giữa các cá thể khi ăn duy trì từ 2 đến 8 m (trung bình 3 - 4 m).

5 nhóm giải pháp định hướng

  1. Mở rộng diện tích chuồng nuôi, lắp đặt thêm hệ thống cành cây, lốp xe, dây thừng và giàn leo đa tầng để tăng cường vận động.
  2. Cải tiến kỹ thuật bó lá: Duy trì kết hợp từ 3 đến 5 loại lá trong một bó, luân chuyển thành phần hàng ngày.
  3. Tăng tỷ trọng các loài thức ăn ưa thích và chủ đạo (Màng tang, Hồng bì, Đào, Khế, Keo dậu, Nhò vàng), điều chỉnh danh mục thức ăn theo mùa.
  4. Điều chỉnh giảm định mức cung cấp thức ăn vào những ngày thời tiết bất lợi (mưa lạnh, nắng nóng gay gắt) do sức tiêu thụ của Voọc giảm.
  5. Điều chỉnh khẩu phần cấp vào ở mức hợp lý (khoảng 3 - 4 kg lá/cá thể/ngày) nhằm tránh lãng phí thức ăn thừa và giảm công lao động vệ sinh chuồng trại.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả định lượng cụ thể:
    • Thống kê chi tiết hiện trạng 11 cá thể Voọc mông trắng (1 đực trưởng thành bình thường, 1 đực trưởng thành bị gù lưng, 6 cái trưởng thành, 1 bán trưởng thành, 2 con non).
    • Ghi nhận danh mục 76 loài thực vật làm thức ăn được sử dụng tại trung tâm và phân loại mức độ ưa thích thực nghiệm của 16 loài lá cây.
    • Xác định định mức tiêu thụ thực tế của 1 cá thể Voọc trưởng thành là 2,2 - 2,3 kg lá tươi/ngày trên nền khẩu phần cấp vào từ 4 đến 5 kg/cá thể/ngày (tỷ lệ sử dụng thực tế đạt dưới 50%).
    • Xác lập tần suất định lượng của 3 phương thức lấy ăn và 3 phương thức vận động ở 5 cá thể thực nghiệm.
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận cung cấp số liệu thực nghiệm cập nhật năm 2022 về hành vi chọn ăn của Voọc mông trắng nuôi nhốt. So với các công trình trước đây của Phạm Nhật (2002), nghiên cứu này bổ sung chi tiết về cơ cấu vận động, cự ly tương tác xã hội giữa các cá thể (2 - 8 m) và chỉ ra sự lãng phí thức ăn trong quy trình cấp phát hiện hành, làm cơ sở khoa học để trung tâm điều chỉnh khẩu phần ăn thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian thu thập số liệu thực địa ngắn (từ cuối tháng 3 đến tháng 5/2022), chỉ đại diện cho một mùa trong năm (mùa xuân - đầu hè). Nghiên cứu chỉ tập trung theo dõi chuyên sâu tại 2 chuồng nuôi nhốt (chuồng 1A và chuồng 10A với 5 cá thể), chưa thể theo dõi định lượng hành vi chọn ăn của 6 cá thể trong khu bán hoang dã do địa hình đồi rừng rộng 2 ha che khuất tầm nhìn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng nghiên cứu tập tính dinh dưỡng qua cả 4 mùa trong năm; tiến hành phân tích thành phần hóa sinh và giá trị dinh dưỡng của từng loài lá; thử nghiệm thêm các loài thực vật bản địa mới và hoàn thiện phương pháp quan sát các nhóm cá thể linh trưởng trong điều kiện bán hoang dã trước khi tái thả.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Động vật học. Các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã, vườn thú và ban quản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên có thể ứng dụng trực tiếp bảng danh mục 76 loài thức ăn thực vật, kỹ thuật chia nhỏ buồng ăn 5 vị trí để giảm xung đột đàn và định mức cung cấp thức ăn (3 - 4 kg lá/cá thể/ngày) nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành và kỹ thuật chăm sóc linh trưởng ăn lá.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu đàn Voọc mông trắng tại TTCHTLT Cúc Phương vào năm 2022 gồm bao nhiêu cá thể? Tại thời điểm nghiên cứu năm 2022, trung tâm đang nuôi dưỡng 11 cá thể (tất cả đều sinh ra tại trung tâm). Đàn gồm: 1 đực trưởng thành khỏe mạnh (14 tuổi), 1 đực trưởng thành bị gù lưng (21 tuổi), 6 cái trưởng thành (tuổi từ 6 đến 17), 1 cá thể bán trưởng thành (cái, 4 tuổi) và 2 con non (1 cái 2 tuổi, 1 đực 1 tuổi). Có 5 cá thể nuôi ở chuồng 1A và 10A, 6 cá thể nuôi tại khu bán hoang dã.

2. Lượng thức ăn lá cây cấp vào và lượng tiêu thụ thực tế hàng ngày của mỗi cá thể là bao nhiêu? Mỗi ngày trung tâm cấp 5 kg lá cho 1 cá thể ở chuồng 1A và 4 kg lá cho 1 cá thể ở chuồng 10A (chia làm 3 bữa). Qua cân đo sinh khối thực tế, mỗi cá thể Voọc mông trắng trưởng thành chỉ tiêu thụ từ 2,2 đến 2,3 kg lá/ngày; lượng lá dư thừa cuối ngày chiếm hơn 50% lượng thức ăn đưa vào.

3. Những loài lá cây nào được Voọc mông trắng ưa thích nhất trong quá trình theo dõi? Trong 16 loài lá thực nghiệm, 6 loài được Voọc rất ưa thích (đạt tỷ lệ tiêu thụ 100% sau 30 phút đầu) gồm: Màng tang (Litsea cubeba), Hồng bì (Clausena excavata), Đào (Prunus persica), Khế (Averrhoa carambola), Nhò vàng (Streblus macrophyllus) và Keo dậu (Leucaena leucocephala).

4. Phương thức lấy ăn và vận động phổ biến nhất của Voọc mông trắng trong chuồng nuôi là gì? Phương thức lấy ăn chiếm tỷ lệ cao nhất ở tất cả các cá thể là "Sử dụng chi trước để kéo các cành mang thức ăn về phía mình và cho trực tiếp vào miệng để ăn" (đạt 44,2% đến 53,8%). Phương thức vận động chủ đạo là "Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất" (đạt 47,1% đến 57,7%).

5. Vì sao chuồng nuôi cần bố trí 5 buồng ăn riêng biệt? Do Voọc mông trắng có tập tính phân chia đẳng cấp rõ rệt và dễ xảy ra xung đột tranh giành thức ăn. Việc bố trí 5 buồng ăn (tại 4 góc chuồng và 1 buồng treo giữa chuồng) kết hợp khoảng cách ăn an toàn từ 2 đến 8 m giúp các cá thể yếu hơn hoặc cá thể cái, cá thể khuyết tật đều tiếp cận được thức ăn đầy đủ mà không bị con đực đầu đàn xua đuổi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vừ A Lông đã làm rõ hiện trạng nuôi dưỡng 11 cá thể Voọc mông trắng và định lượng hóa quy luật sử dụng thức ăn, tập tính chọn ăn của loài trong điều kiện nuôi nhốt tại TTCHTLT Cúc Phương. Kết quả thực nghiệm xác định được 6 loài thực vật rất ưa thích, chỉ ra định mức tiêu thụ thực tế đạt 2,2 - 2,3 kg lá tươi/cá thể/ngày và xác lập mô thức chọn ăn đặc trưng theo từng vị trí thứ bậc xã hội trong đàn. Công trình đã đề xuất 5 nhóm giải pháp kỹ thuật có giá trị thực tiễn cao, giúp cải tiến khẩu phần và nâng cao hiệu quả công tác cứu hộ, bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu nguy cấp này.