ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đƣợc quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô… tạo nên môi trƣờng sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới [3]. Tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) là yếu tố tích tích cực góp phần cải thiện môi trƣờng sống của con ngƣời ngày càng văn minh, hiện đại, tốt đẹp hơn. Các vùng có tính ĐDSH cao chủ yếu tập chung ở các Vƣờn Quốc gia (VQG) và các Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) [4], trong đó có VQG Cát Tiên. Bên cạnh những hoạt động nỗ lực nhằm bảo vệ tính ĐDSH, con ngƣời cũng đang khai thác quá mức hoặc làm biến đổi tài nguyên ĐDSH, làm cho các giá trị ĐDSH đang dần bị suy thoái, xuống cấp [3].
Hiện nay bảo tồn ĐDSH là một trong những vấn đề ƣu tiên của Chính phủ Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới. Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) dành ƣu tiên cho giải pháp bảo tồn in-situ và chú trọng vào các hệ sinh thái nổi bật nhất ở các địa phƣơng với 3 mục tiêu lớn đƣợc đặt ra: 1) Bảo vệ các hệ sinh thái tiêu biểu hoặc các hệ sinh thái bị đe dọa bởi các sức ép của con ngƣời; 2) Bảo vệ các thành phần ĐDSH đang bị đe dọa; 3) Xác định và quảng bá các công cụ, phƣơng pháp sử dụng và phát huy các giá trị ĐDSH [2],[3]. Mỗi hệ sinh thái đều đƣợc đặc trƣng bởi nhiều quần xã sinh vật [3],[9]. Các quần xã sinh vật đƣợc đặc trƣng bởi các quần thể của mỗi loài [3],[9].
Mặt khác, các loài sinh sống trong các sinh cảnh phù hợp có khả năng sinh trƣởng và phát triển tốt và ngƣợc lại. Do vậy, khi nghiên cứu một loài ở bất cứ một địa điểm nào, điều quan trọng cần thiết là phải nghiên cứu phân bố của nó [6]. Âm sinh học là một liên ngành khoa học kết hợp sinh học và âm thanh, thông thƣờng đề cập đến việc tiếp nhận âm thanh ở động vật (kể cả con ngƣời), từ đó có thể xác định đƣợc vị trí, các hoạt động sinh thái của đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 tƣợng điều tra. Trong giới hạn của đề tài, phƣơng pháp âm sinh học đƣợc sử dụng để xác định phân bố và tình trạng của loài.
VQG Cát Tiên đƣợc thành lập vào tháng 2 năm 1988 với diện tích đƣợc nâng lên 73. VQG Cát Tiên bao gồm các hệ sinh thái rừng nhiệt đới với giá trị ĐDSH cao, là sinh cảnh phù hợp cho việc bảo tồn và phát triển quần thể Gà so ngực vàng, trong khi đó, một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm số lƣợng cá thể Gà so ngực vàng ở Việt Nam là do tác động của con ngƣời đang làm mất, chia cắt và làm suy thoái sinh cảnh của chúng. Do vậy để bảo tồn Gà so ngực vàng, bên cạnh việc ngăn chặn các hiện tƣợng săn, bắt, bẫy trái phép và các hoạt động phi pháp khác cũng cần nghiên cứu xây dựng các giải pháp bảo tồn các sinh cảnh của loài. Hiện nay, chƣa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về việc ứng dụng công nghệ và các thiết bị tự động vào nghiên cứu phân bố của loài Gà so ngực vàng ở VQG Cát Tiên.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài Gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại Vườn quốc gia Cát Tiên”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm thông tin về đặc điểm phân bố của loài Gà so ngực vàng, là cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn ĐDSH hiệu quả tại VQG Cát Tiên. Đồng thời đề tài cũng mở ra một hƣớng đi mới trong nghiên cứu các loài động vật hoang dã tại Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trƣớc năm 1975 Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là công trình nghiên cứu về chim do các nhà khoa học nƣớc ngoài thực hiện. Loài Gà rừng (Gallus gallus) là loài chim đầu tiên đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu đƣợc ở Côn Đảo và đƣợc nhà sinh vật học Line mô tả giữa thế kỷ XVIII. Cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học nƣớc ngoài có mặt ở Việt Nam đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu chim trên phạm vi rộng với quy mô lớn. Năm 1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài đƣợc xuất bản lần đầu tiên với các lô mẫu vật do Pierier, giám đốc sở thú Sài Gòn thời bấy giờ sƣu tầm và công bố (H.
Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim Đông Dƣơng gồm 4 tập với 954 loài và phân loài (Delacour T.Et và Jabuille, 1931. Lesoiseaux de I’Indochine francaise, I-IV.Paris), trong đó có các loài chim của Việt Nam. Năm 1951, Danh lục chim Đông Dƣơng đƣợc Delacoure bổ sung và hoàn thành, xuất bản gồm 1085 loài và phân loài (J. Năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu lịch sử nghiên cứu chim của Việt Nam, thời kỳ với các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà nghiên cứu chim Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu đáng chú ý của các tác giả nhƣ Võ Quý (1962, 1966), Trần Gia Huấn (1960,1961), Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anoro N. Các công trình nghiên cứu đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại mà ít chú ý đến đặc điểm sinh học và đặc điểm sinh thái của chúng. Năm 1971, với sự tổng hợp các công trình nghiên cứu về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, Võ Quý đã cho ra công trình số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn “Sinh học của những loài chim thƣờng gặp ở miền Bắc Vệt Nam”. Trong sách tác giả có dẫn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế.
Đây là công trình nghiên cứu về chim đầy đủ, có hệ thống và sát thực nhất giai đoạn này. Nhƣng do đối tƣợng nghiên cứu rộng nên tác giả không thể nghiên cứu về nơi ở của chúng, đối với mỗi loài tác giả mới chỉ ra loại sinh cảnh, đai cao chúng sống mà chƣa chỉ ra đặc điểm của sinh cảnh sống của chim nhƣ tổ thành thực vật, vị trí tầng tán yêu thích. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 Sau chiến tranh giải phóng thống nhất đất nƣớc, công trình “Chim Việt Nam hình thái và phân loại (tập 1, 2)” của Võ Quý (1975, 1981) là công trình đầu tiên nghiên cứu về chim trên lãnh thổ Việt Nam về mặt sinh thái, phân loại và phân bố tự nhiên của các loài chim. Cũng trong giai đoạn này cuốn sách “Danh mục chim Việt Nam” của Võ Quý, Nguyễn Cử năm 1995 ra đời, bản danh mục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995, với mỗi loài tác giả đã dẫn ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố.
Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 2007, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã xuất bản ấn phẩm “Động vật chí” trong tập 18 đã thống kê cả nƣớc có khoảng 164 loài chim nƣớc và di cƣ thuộc 68 họ, 5 bộ. Trong đó tác giả đã mô tả đặc điểm nhận biết, đặc điểm sinh học, sinh thái học, vùng phân bố của các loài. Ngoài ra trong sách còn có các hình vẽ mầu các loài chim nƣớc giúp độc giả dễ dàng nhận biết. Cho đến những năm gần đây nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học của các nƣớc nhƣ: Hà Lan, Đức, Anh, Úc, Mỹ.
đã tài trợ vào Việt Nam. Các tổ chức phi chính phủ nhƣ: Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng thế giới (WB) đã đầu tƣ vào Việt Nam và sau đó một loạt công trình số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn nghiên cứu về động, thực vật hoang đã đã đƣợc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 xuất bản. Công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về chim trong giai đoạn “Danh lục chim Việt Nam” do Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Vân (xuất bản năm 2011). Trong sách tác giả đã giới thiệu 887 loài chim, 88 họ và 20 bộ hiện có ở Việt Nam, mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố, tình trạng, nơi ở và có hình vẽ mầu kèm theo.
Nói chung cuốn sách đƣợc biên soạn với mục đích chủ yếu giúp ngƣời đọc nhận dạng các loài chim ngoài thực địa. Loài Gà so ngực vàng Gà so ngực vàng hay còn gọi là Gà so ngực vảy (Arborophila chloropus), một loài chim định cƣ thuộc họ Trĩ, Bộ gà là loài đƣợc xếp trong Danh lục đỏ thế giới ở mức ít quan tâm (LC). Gà so ngực vàng có chiều dài trung bình 30 cm (từ mút mỏ đến cuối đuôi theo đƣờng thẳng) nặng từ 250g - 300g. Chim trƣởng thành ở phần trên cơ thể, sƣờn và hai bên có nhiều vảy màu đen nhỏ; cánh không có điểm đen; lông bao tai có màu nâu ôliu đến nâu hạt dẻ.
Chân có màu từ vàng đến xanh. Hiện nay, quần thể của loài đang bị suy giảm ngoài tự nhiên do mất sinh cảnh và săn bắt (IUCN, 2017). Gà so ngực vàng 1. Nghiên cứu liên quan đến chim tại Vƣờn quốc gia Cát Tiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 VQG Cát Tiên có hệ động vật đa dạng và phong phú về thành phần loài, các loài quý hiếm có ý nghĩa bảo tồn nguồn gen trên toàn thế giới.
Khu hệ động vật của VQG Cát Tiên có những nét đặc trƣng của khu hệ động vật vùng bình nguyên Đông Trƣờng Sơn, có quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên. Thống kê hệ động vật VQG Cát Tiên.1: thống kê hệ động vật tại VQG Cát Tiên Nhóm Số Bộ Số Họ Số Loài Thú 12 38 113 Chim 18 64 351 Bò sát 4 17 109 Lƣỡng cƣ 2 6 41 Côn trùng 10 68 756 Cá 9 29 159 Tổng số 55 222 1.529 (Nguồn: http://namcattien.vn) Nhóm chim gồm 351 loài thuộc 64 họ của 18 bộ. Trong đó có 17 loài quý hiếm đã đƣợc phát hiện và có tên trong sách đỏ Việt Nam.