MỞ ĐẦU Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề suy thoái môi trường và sự mất đi của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng. Việc bảo vệ rừng tự nhiên ở Việt Nam đang là vấn đề cấp bách đòi hỏi sự nỗ lực phối kết hợp rất chặt giữa Tổng cục Lâm nghiệp và các cơ quan, các tổ chức liên quan. Tính từ tháng 1 năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2013 tổng diện tích rừng bị phá, hủy hoại trên cả nước là 1.494 vụ vi phạm và phần lớn tập trung ở các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn hay khu rừng phòng hộ đầu nguồn (Số liệu thống kê cục kiểm lâm, 2013). Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng rừng bị tàn phá thì vấn đề nổi bật được nhiều chuyên gia đề cập đến đó là quá trình bảo vệ phát triển rừng chưa thực sự gắn kết được quyền lợi và sự tham gia của người dân hay cộng đồng địa phương (Quản lý rừng cộng đồng Việt Nam, chính sách và thực tiễn, 2009).
Hiện nay diện tích đất, rừng giao cho cộng đồng quản lý, bảo vệ trên toàn quốc là 244.777ha trên tổng diện tích đất có rừng là 4.121ha chiếm tỷ lệ 5,1% (Bộ nông nghiệp phát triển nông, 2013). Đây thực sự là con số rất khiêm tốn vì diện tích đất đất tự nhiên của Việt Nam phần lớn là đồi núi và là nơi tập trung của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, đã và đang có cuộc sống gắn liền với rừng nhưng diện tích giao cho cộng đồng quan lý lại rất nhỏ. Cộng đồng tham gia quản lý rừng là một trong những hình thức quản lý rừng đang thu hút sự quan tâm ở cấp Trung ương và địa phương. Đặc biệt, trong vài năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu quản lý rừng, một số địa phương đã triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng (làng bản, nhóm hộ.) quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, theo đó cộng đồng với tư cách như một chủ rừng.
Có hàng loạt câu hỏi đang đặt ra, như: vị trí, vai trò của cộng đồng trong hệ thống tổ chức quản lý rừng ở Việt Nam như thế nào? Có nên khuyến khích phát triển rừng cộng đồng hay không? Những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển rừng dựa vào cộng đồng là gì? Khuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển rừng cần được xác lập như thế nào? Để trả lời cho những câu 1 hỏi đó Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật đất đai 2013 ra đời và đã tạo hành lang pháp lý cơ bản cho quản lý rừng cộng đồng thông qua hình thức giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn hay nhóm hộ cùng quản lý. Lúc này, cộng đồng được xem là một chủ rừng thực sự, họ được xác lập quyền sử dụng đất, sử dụng rừng, thiết lập quyền lợi, nghĩa vụ và cơ chế hưởng lợi rõ ràng (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2006). Ở Việt Nam, trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu, hội thảo được tổ chức liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng. Mục đích và kết quả hướng tới chính là đưa ra các chỉ số chứng minh cộng đồng quản lý rừng có hiệu quả hay không và các bài học, kinh nghiệm trong quản lý rừng cộng đồng là gì?.
Từ đó có chỉ số chứng minh được hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng do cộng đồng dân cư quản lý. Cũng chính vì vậy mà cần có những minh chứng cụ thể từ những nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn cụ thể nhằm có được những chỉ số thay đổi về chất lượng, trữ lượng rừng qua từng thời kỳ gắn liền với các giai đoạn quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng. Có như vậy thì mới có thể thuyết phục được các nhà hoạch định chính sách về tính hiệu quả của việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng. Do đó, đề tài “Nghiên cứu phương thức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng tại xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh” là cần thiết.
Nghiên cứu này nhằm cung cấp các chỉ số, bằng chứng và bài học liên quan đến hiệu quả quản lý rừng sau khi giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cộng đồng quản lý và sử dụng lâu dài. Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà luật pháp, các nhà hoạch định chính sách thấy được những chỉ số thực tiễn liên quan đến quản lý tài nguyên rừng dựa vào nhóm hộ gia đình, cộng đồng trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất bổ sung, sửa đổi hoặc xây dựng mới các chính sách nhằm tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh nói riêng và ở Việt Nam nói chung ngày càng hiệu quả hơn. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm về cộng đồng Cộng đồng xã hội (dân tộc, triết) Chỉ một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng họ, một sắc tộc, một dân tộc. Cộng đồng xã hội bao gồm một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát, đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, về địa lý, về ngôn ngữ, về văn hóa, về tín ngưỡng, về tâm lý, về lối sống. Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một cộng đồng xã hội.
Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên một quy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng của nhiều màu sắc của các cộng đồng xã hội trên những quy mô nhỏ hơn (Từ điển Bách khoa Việt Nam tập I – Hà Nội 1995). Khái niệm về cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng Theo nghĩa chung thì quản lý tài nguyên được hiểu là tập hợp những hoạt động nhằm bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên. Các bộ phận tài nguyên luôn có quan hệ mật thiết với nhau và cùng quy định đặc điểm chủ yếu của hệ thống nuôi dưỡng sự sống. Sự thay đổi của một bộ phận tài nguyên này luôn kéo theo sự thay đổi của bộ phận tài nguyên khác.
Vì vậy, các biện pháp quản lý luôn là những biện pháp tổng hợp, có tác động đồng thời đến các bộ phận tài nguyên và cả hệ sinh thái. Ở Việt Nam, khái niệm “cộng đồng” được dùng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng có thể khái quát thành 2 loại quan điểm sau đây: - Cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn bản. Theo quan niệm này, cộng đồng chính là cộng đồng dân cư thôn bản. 3 - Cộng đồng được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến các nhóm người có mối gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống.
Như vậy, theo quan niệm này, “cộng đồng” không phải chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc trong thôn, cộng đồng các dòng họ hoặc các nhóm hộ trong thôn. Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn (phù hợp với Luật bảo vệ phát triển rừng năm 2004). Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ). Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này.
Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận. Tuy nhiên, qua các hội nghị, văn bản ban hành, các tài liệu nghiên cứu và bài viết liên quan đến đất rừng cộng đồng đều thống nhất ở Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau: Quản lý rừng cộng đồng Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu vực rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng. Rừng của cộng đồng là rừng của thôn đã được quản lý theo truyền thống trước đây (quản lý theo luật tục truyền thống), rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã được giao cho các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc thôn quản lý. Những diện tích này có thể nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng.
4 Như vậy thực chất “quản lý rừng cộng đồng” là cộng đồng dân cư thôn quản lý rừng thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng, được hình thành chủ yếu thông qua chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn. Quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng như nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu đồng ruộng hay vấn đề tâm linh. Hình thức này có thể chia thành 2 đối tượng: - Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp).