Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hải Phòng sở hữu chiều dài bờ biển khoảng 125 km cùng hơn 400 hòn đảo lớn nhỏ, giữ vị thế là cửa ngõ giao thương hàng hải quốc tế trọng điểm của miền Bắc với sản lượng hàng hóa thông qua cảng từng ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc từ 24 triệu tấn lên hơn 30 triệu tấn. Tuy nhiên, đặc thù thủy văn phức tạp của hệ cửa sông Bạch Đằng và Cửa Cấm dẫn đến hiện tượng bồi lắng nghiêm trọng, khiến độ sâu luồng tàu thường xuyên bị suy giảm xuống mức chỉ còn 3,5 mét đến 4,0 mét. Nếu như trước năm 1987, khối lượng nạo vét duy tu luồng chỉ duy trì ở mức hơn 1,0 triệu m3/năm thì trong những năm gần đây, con số này đã tăng gấp 3 đến 5 lần, chạm ngưỡng 1,0 đến 3,0 triệu m3 mỗi năm nhằm đảm bảo an toàn cho tàu biển trọng tải lớn ra vào các bến cảng và khu bến Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện.

Vấn đề đặt ra là khối lượng vật chất nạo vét khổng lồ nêu trên đang tạo sức ép nặng nề lên công tác quản lý chất thải và bảo vệ môi trường biển. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện cơ sở pháp lý và thực tiễn quản trị hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng tại Hải Phòng, đặt trong bối cảnh Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo năm 2015 mới chỉ đưa ra các quy định khung về nhận chìm tại các Điều 57 đến Điều 63. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là phân tích khoảng trống chính sách giữa quy định pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế, đánh giá thực trạng vận hành tại hệ thống khoảng 40 cầu cảng trên địa bàn thành phố, từ đó đề xuất mô hình phân cấp quản lý liên ngành và quy trình kỹ thuật cấp phép đổ thải. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược đối với việc bảo tồn hơn 4.000 ha hệ sinh thái biển đặc thù, đồng thời bảo đảm tính bền vững cho tăng trưởng kinh tế biển Hải Phòng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp vùng bờ (Integrated Coastal Zone Management - ICZM) kết hợp với nguyên tắc Phòng ngừa rủi ro sinh thái và phân tầng kiểm soát chất thải theo tinh thần Công ước Luân Đôn năm 1972 và Nghị định thư Luân Đôn năm 1996. Trong đó, mô hình Hướng dẫn đánh giá chất thải 8 bước (Waste Assessment Guidance - WAG) của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) được sử dụng làm khung tham chiếu chuẩn mực để thẩm định các phương án nhận chìm vật liệu nạo vét ngoài đại dương.

Về mặt khái niệm, đề tài chuẩn hóa và làm rõ 4 thuật ngữ khoa học nền tảng:

  • Hoạt động nhận chìm ở biển: Hành vi trút bỏ hoặc đánh chìm có chủ định các vật liệu được cấp phép xuống vùng biển quy định từ tàu thuyền, công trình nhân tạo.
  • Vật liệu nạo vét: Lớp trầm tích đáy, bùn cát sa bồi được lấy lên từ đáy luồng hàng hải, vũng quay tàu và khu nước trước bến cảng.
  • Bãi chứa chất thải trên biển (Dumping site): Khu vực biển có tọa độ xác định trên hải đồ, được cấp phép chính thức để tiếp nhận vật liệu nạo vét dựa trên các tiêu chí an toàn sinh thái và an toàn hàng hải.
  • Đánh giá tác động môi trường biển chuyên biệt: Phương thức tích hợp quan trắc lan truyền bùn cát, động lực học dòng chảy và sức chịu tải của hệ sinh thái ven bờ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện thu thập và xử lý dữ liệu thông qua cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu tại 5 cơ quan quản trị và doanh nghiệp nòng cốt trên địa bàn thành phố Hải Phòng, bao gồm: Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng, Chi cục Bảo vệ Môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng), Tổng công ty Đảm bảo An toàn Hàng hải miền Bắc, Ban Quản lý Dự án Hàng hải 2, và Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 15 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý môi trường biển và logistics hàng hải, kết hợp rà soát hệ thống dữ liệu thứ cấp từ 12 văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam cùng 4 công ước, nghị định thư quốc tế.

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu chuyên gia có chủ đích (Purposive Sampling) và chọn mẫu điển hình theo chuỗi giá trị quản lý từ cấp hoạch định chính sách, cơ quan cấp phép đến đơn vị trực tiếp thi công nạo vét. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính chất đặc thù, chuyên sâu của lĩnh vực nạo vét hàng hải, đòi hỏi nguồn thông tin có độ tin cậy kỹ thuật cao. Nghiên cứu phối hợp phương pháp tiếp cận hệ thống và so sánh đối chiếu pháp lý (Comparative Legal Analysis) nhằm chỉ rõ những xung đột thẩm quyền giữa các bộ ngành. Toàn bộ chuỗi số liệu thứ cấp được hồi cứu trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2015, kết hợp khảo sát thực địa bổ sung được hoàn tất vào giai đoạn 2015 - 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra khoảng trống pháp lý lớn khi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam trước năm 2016 chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia riêng biệt cho việc cấp phép nhận chìm vật liệu nạo vét. Mặc dù Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã bổ sung khái niệm nhận chìm, việc triển khai trên thực tế vẫn phụ thuộc vào báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) theo Nghị định 18/2015/NĐ-CP, vốn thiếu các tiêu chí định lượng về độc học sinh học và trầm tích đáy so với chuẩn mực 8 bước WAG của Nghị định thư Luân Đôn 1996.

Thứ hai, số liệu thống kê cho thấy áp lực xả thải từ hoạt động nạo vét duy tu luồng hàng hải tại Hải Phòng luôn đứng đầu miền Bắc. Riêng trong năm 2015, khối lượng nạo vét luồng Hải Phòng đạt khoảng 1.000.000 m3, gấp hơn 4,3 lần luồng Sài Gòn - Vũng Tàu (230.192 m3) và gấp gần 16 lần luồng Định An - Cần Thơ (62.833 m3). Khi kết hợp dự án xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, nhu cầu đổ thải phát sinh thường xuyên chạm mốc 3.000.000 tấn/năm.

Thứ ba, hoạt động nạo vét và đổ thải tạo ra các xung đột môi trường nghiêm trọng. Dữ liệu quan trắc thực nghiệm tại luồng Nam Triệu (Hải Phòng) cho thấy hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) ở cả 3 tầng nước (mặt, giữa, đáy) đã tăng vọt từ 37 mg/l trước nạo vét lên 188 mg/l sau nạo vét, tương đương mức tăng hơn 500%. Vùng nước vẩn đục có bán kính lan truyền hàng trăm mét với diện tích xáo trộn vượt quá 30.000 m2, đe dọa trực tiếp đến các bãi đẻ thủy sản và rạn san hô Cát Bà.

Thứ tư, phương thức quản lý tại địa phương còn manh mún, thiếu sự thống nhất khi một số dự án đổ thải bùn nạo vét trước đây được giao cho Sở Xây dựng thẩm định theo Nghị định 59/2007/NĐ-CP về chất thải rắn thông thường, dẫn đến việc lựa chọn vị trí đổ thải thiếu luận cứ hải văn và gây nguy cơ bồi lấp ngược trở lại luồng tàu.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích các mô hình quản trị quốc tế, nghiên cứu nhận thấy các nước phát triển đều thiết lập cơ chế điều phối đa ngành chặt chẽ. Điển hình tại Mỹ, việc quản lý nhận chìm được phân định rõ ràng giữa 4 cơ quan liên bang: Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) chỉ định vị trí bãi đổ, Quân đoàn Kỹ sư Lục quân (USACE) thực hiện cấp phép kỹ thuật và thi công, Cơ quan Khí quyển và Đại dương (NOAA) đánh giá tác động sinh thái, và Cảnh sát biển (USCG) giám sát phương tiện đổ thải; nhờ đó năm 2008 Mỹ chỉ cần cấp 15 giấy phép nhận chìm có kiểm soát trên toàn quốc. Tại Ireland, Bộ Giao thông vận tải giữ vai trò chủ trì và đã cấp 9 giấy phép năm 2008 sau khi tham vấn 4 bộ chuyên ngành. Trong khi đó, Canada áp dụng phân tích ngưỡng độc chất bắt buộc đối với thủy ngân, cadmium, PAH và PCB trước khi phê duyệt nạo vét.

Sự phân tán thẩm quyền tại Việt Nam giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với Bộ Giao thông vận tải khiến việc áp dụng Quyết định số 73/2013/QĐ-TTg chỉ mang tính giải pháp tình thế ngắn hạn. Để các cấp quản lý dễ dàng theo dõi và đưa ra quyết định, dữ liệu phân tích ô nhiễm và vị trí bãi nhận chìm nên được tổng hợp qua ma trận so sánh thể chế và bản đồ GIS không gian biển. Việc mô hình hóa thủy triều (biên độ triều 3,5 - 4,1 m tại Hòn Dáu) cùng hướng dòng chảy mùa đông và mùa hè sẽ giúp khoanh vùng bãi đổ chính xác, ngăn chặn hiện tượng bùn cát phát tán vào các vùng bảo tồn nhạy cảm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý chuyên ngành. Bộ Tài nguyên và Môi trường cần sớm chủ trì ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết quy trình 8 bước đánh giá chất nạo vét dựa trên Nghị định thư Luân Đôn 1996, hoàn thành trong giai đoạn 2017 - 2018. Văn bản này cần xác định rõ danh mục các chất cấm nhận chìm, bộ tiêu chuẩn giới hạn kim loại nặng và quy chuẩn bãi chứa chất thải trên biển, hướng tới mục tiêu rút ngắn 30% thời gian xử lý thủ tục cấp phép nhưng nâng cao 100% độ chính xác của báo cáo đánh giá môi trường.

Thứ hai, thiết lập quy hoạch tổng thể hệ thống bãi nhận chìm chất nạo vét ngoài khơi Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cần phối hợp với Cục Hàng hải Việt Nam xác định từ 2 đến 3 vị trí đổ thải xa bờ có độ sâu phù hợp, nằm ngoài phạm vi vùng đệm Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà. Tất cả các tàu nạo vét và sà lan vận chuyển chất thải bắt buộc phải tích hợp thiết bị giám sát hành trình (VMS/AIS), truyền dữ liệu thời gian thực 24/7 về trung tâm chỉ huy để kiểm soát 100% hành trình đổ thải đúng vị trí quy định.

Thứ ba, xây dựng cơ chế giám sát liên ngành và nâng cao năng lực kỹ thuật quan trắc. Thành lập tổ công tác liên ngành gồm Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng, Chi cục Biển và Hải đảo, Cảnh sát biển và lực lượng Biên phòng để tiến hành thanh tra định kỳ 3 tháng/lần và đột xuất tại các điểm nạo vét. Đầu tư hệ thống phao quan trắc tự động đo độ đục SS và chất lượng nước xung quanh bãi đổ, đảm bảo xử lý kịp thời các sự cố phát tán chất ô nhiễm.

Thứ tư, thúc đẩy giải pháp kinh tế tuần hoàn thông qua tái sử dụng vật liệu nạo vét. Các chủ đầu tư hạ tầng cảng biển và khu công nghiệp cần ưu tiên phương án tận thu cát, bùn nạo vét để san lấp mặt bằng lấn biển, tương tự mô hình thành công tại Khu công nghiệp Đình Vũ với diện tích tôn tạo 164 ha từ hàng chục triệu m3 cát nạo vét. Mục tiêu đến năm 2025 đạt tỷ lệ tái sử dụng tối thiểu 40% khối lượng vật liệu nạo vét sạch phục vụ san lấp công trình xây dựng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và hàng hải (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Hàng hải Việt Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng): Nắm bắt luận cứ khoa học để hoàn thiện thông tư hướng dẫn, xây dựng quy hoạch bãi đổ thải biển và chuẩn hóa quy trình cấp phép nhận chìm.
  • Doanh nghiệp khai thác cảng biển và đơn vị thi công nạo vét (Tổng công ty Bảo đảm An toàn Hàng hải miền Bắc, các công ty dịch vụ hàng hải): Ứng dụng mô hình đánh giá trầm tích để lập phương án đổ thải tối ưu, tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật và tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí xử lý môi trường.
  • Viện nghiên cứu, trường đại học và nhà khoa học môi trường biển: Kế thừa chuỗi số liệu khảo sát thực tế về thủy triều, độ đục nước biển, đặc tính trầm tích đáy vịnh Bắc Bộ phục vụ các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về động lực học vùng bờ.
  • Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên và quản lý khu bảo tồn biển (Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà, Khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ): Sử dụng các phân tích tác động sinh thái để giám sát, phản biện xã hội đối với các dự án nạo vét luồng hàng hải giáp ranh khu bảo tồn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao công tác nạo vét luồng tàu tại Hải Phòng lại chịu áp lực lớn hơn nhiều địa phương khác?

Hải Phòng có hệ thống sông Thái Bình và sông Bạch Đằng đổ ra 5 cửa biển chính mang theo lượng phù sa bồi lắng khổng lồ. Để duy trì độ sâu luồng cho tàu vạn tấn ra vào hơn 40 bến cảng, thành phố phải nạo vét từ 1,0 đến 3,0 triệu m3 bùn cát mỗi năm, tạo ra sức ép xả thải vượt trội so với các cảng biển nước sâu tự nhiên.

Nghị định thư Luân Đôn 1996 quản lý việc nhận chìm vật liệu nạo vét bằng công cụ nào?

Nghị định thư 1996 sử dụng Hướng dẫn đánh giá chất thải 8 bước (WAG), bao gồm đánh giá đặc tính lý hóa học của trầm tích, khảo sát các phương án tái sử dụng trên bờ, lựa chọn bãi đổ ngoài khơi và thiết lập chương trình quan trắc sinh thái định kỳ, thay thế hoàn toàn cơ chế cấp phép cảm tính.

Báo cáo ĐTM truyền thống có đáp ứng đủ yêu cầu kiểm soát đổ thải trên biển không?

Báo cáo ĐTM theo quy định thông thường mang tính tĩnh và định tính, chưa phản ánh được tính chất động lực học biển như sóng, dòng triều lan truyền với biên độ 3,5 - 4,1 m tại Hòn Dáu. Do đó, cần quy trình đánh giá nhận chìm chuyên biệt có mô hình hóa số trị phân tán chất ô nhiễm.

Tác động tiêu cực trực tiếp nhất của hoạt động nạo vét luồng tàu tại Hải Phòng là gì?

Tác động rõ rệt nhất là làm xáo trộn lớp trầm tích đáy, khiến hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) tăng hơn 5 lần từ 37 mg/l lên 188 mg/l, tạo quầng đục lan rộng trên 30.000 m2. Hiện tượng này làm suy giảm khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và phá hủy nơi cư trú của sinh vật đáy.

Việc tái sử dụng vật liệu nạo vét để san lấp mang lại hiệu quả thực tế ra sao?

Giải pháp tận thu bùn cát nạo vét giúp giảm thiểu áp lực nhận chìm ra biển và cung cấp nguồn vật liệu san lấp dồi dào. Điển hình tại Hải Phòng, Khu công nghiệp Đình Vũ đã tận thu hàng chục triệu m3 cát nạo vét để san lấp tôn tạo thành công 164 ha mặt bằng phục vụ phát triển công nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý quốc tế từ Công ước Luân Đôn 1972, Nghị định thư Luân Đôn 1996 và đối chiếu với Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo năm 2015 của Việt Nam.
  • Phân tích thực trạng nạo vét tại Hải Phòng cho thấy khối lượng sa bồi hàng năm từ 1,0 đến 3,0 triệu m3 đòi hỏi phải có quy hoạch bãi đổ thải biển dài hạn thay thế cho các giải pháp tình thế.
  • Thực nghiệm khoa học chứng minh việc gia tăng độ đục SS lên tới 188 mg/l đòi hỏi phải áp dụng ngay quy trình đánh giá chất thải 8 bước WAG vào công tác thẩm định dự án.
  • Đề xuất mô hình phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý hàng hải, tài nguyên môi trường và lực lượng thực thi pháp luật trên biển nhằm giám sát 100% tàu vận chuyển qua thiết bị định vị.
  • Bước tiếp theo trong lộ trình 2018 - 2020 là ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhận chìm biển và triển khai số hóa mạng lưới bãi đổ thải trên hệ thống GIS; các đơn vị quản lý và doanh nghiệp cảng biển cần chủ động áp dụng ngay khung hướng dẫn này để tối ưu hóa hiệu quả vận hành và bảo vệ môi trường biển bền vững.