Chương 1: Khái quát quan hệ hợp tác giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào trước năm 2000 Chương 2: Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào giai đoạn 2000- 2015 Chương 3: Triển vọng quan hệ hợp tác giữa Sơn La với các tỉnh Bắc Lào trong thời gian tới. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TỈNH SƠN LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO TRƢỚC NĂM 2000 1. Đặc điểm về địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào ►Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên của Sơn La Sơn La là một tỉnh miền núi, nằm ở trung tâm vùng Tây Bắc của Việt Nam với diện tích 14. Với đặc điểm 73% diện tích chủ yếu là đồi núi nên giao thông đi lại rất khó khăn.
Phía Bắc giáp với các tỉnh: Yên Bái và Lai Châu ( 252 km) và giáp với 2 tỉnh Phú Thọ và Hòa Bình (135km) ở phía Đông, phía Nam giáp với tỉnh Thanh Hóa (42km)và tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ( 250km) với hai cửa khẩu quốc gia là Lóng Sập và Chiềng Khương, phía Tây giáp với tỉnh Điện Biên (85km). Sơn La có 12 đơn vị hành chính:1 thành phố và 11 huyện. Bản đồ tỉnh Sơn La 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Địa hình của tỉnh Sơn La chia thành những vùng đất có đặc trưng sinh thái khác nhau. Sơn La có hai cao nguyên lớn là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản.
Cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình 1.050 m so với mực nước biển, mang đặc trưng của khí hậu cận ôn đới, đất đai màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây chè, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa. Cao nguyên Nà Sản có độ cao trung bình 800 m, chạy dài theo trục quốc lộ 6, đất đai phì nhiêu thuận lợi cho phát triển cây mía, cà phê, dâu tằm, xoài, nhãn, dứa… Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh khô, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều. Địa hình bị chia cắt sâu và mạnh, hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú. Cao nguyên Mộc Châu rất phù hợp với cây trồng và vật nuôi vùng ôn đới.
Vùng dọc sông Đà phù hợp với cây rừng nhiệt đới quanh năm. Khí hậu Sơn La chia làm hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Nhiệt độ trung bình năm là 21,40C (trung bình tháng cao nhất 270C, tháng thấp nhất 160C). Lượng mưa trung bình hàng năm 1.600 mm, độ ẩm không khí bình quân là 81%.
Như vậy Sơn La không có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế nhưng là một tỉnh có vị trí hết sức quan trọng cho việc đảm bảo an ninh quốc phòng của Việt Nam với nước bạn Lào. Trải qua lịch sử quan hệ lâu đời cho đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ và nay là thời kỳ xây dựng đất nước trong thời bình, nhân dân Sơn La luôn gắn bó với các tỉnh Bắc Lào cả trong chiến đấu và xây dựng phát triển nhằm duy trì quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước ►Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên của các tỉnh Bắc Lào Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một nước ở trung tâm bán đảo Đông Dương, không có đường thông ra biển với diện tích 236.800 Km2, Phía Bắc giáp Trung Quốc 416 km đường biên; Tây Bắc giáp Myanmar ( 235) km; Tây 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam giáp Thái Lan (1.730 km); Nam giáp Campuchia (492 km) và phía Đông giáp Việt Nam ( 2. Để phát triển kinh tế đất nước trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, Lào rất nỗ lực kết nối với các nước bạn. Vùng Bắc Lào gồm 8 tỉnh: Hủa Phăn, Luông Pha Bang, U Đôm Xay, Bò Kẹo, Luông Nậm Thà, Phông Sa Lỳ, Xiêng Khoảng và Xay Nha Bu Ly.
Các tỉnh này nằm cách thủ đô Viêng Chăn từ 400-800 km, trong đó 2 tỉnh tiếp giáp với Sơn La là Luông Pha Bang và Hủa Phăn. Đặc điểm khu vực này chủ yếu là vùng rừng núi chiếm tới 70%, trong khi vùng đồng bằng chiếm tỉ lệ rất nhỏ chỉ có 30%. Bản đồ các tỉnh Bắc Lào Miền Bắc Lào là khu vực địa lý có diện tích tự nhiên khá rộng và có nhiều tiềm năng lớn để phát triển kinh tế, trong đó có tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử. Tuy nhiên, do những hạn chế về 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com địa hình và chế độ thủy văn, mạng lưới giao thông chưa phát triển, xa các trung tâm kinh tế lớn, lại giáp với các vùng nghèo hơn của các nước láng giềng như Tây Bắc (Việt Nam), Đông Bắc (Thái Lan), Vân Nam ( Trung Quốc), việc giao lưu kinh tế với bên ngoài còn hạn chế, nên vùng Bắc Lào vẫn là vùng chậm phát triển hơn của CHDCND Lào 1 Miền Bắc Lào có diện tích đất khoảng 12.000 ha, trong đó nông nghiệp đang sử dụng khoảng 184.989 ha, chiếm tỉ trọng rất nhỏ (1,5%) so với đất tự nhiên.
Đất lâm nghiệp được sử dụng khoảng 4. Diện tích chưa được sử dụng vào các mục đích kinh tế chiếm khoảng 7.540 ha, chiếm 60,5% ; trong đó khoảng 20 % có khả năng sản xuất nông nghiệp, 60% có khả năng sản suất lâm nghiệp, 20% còn lại là diện tích có thể sử dụng cho mục đích xây dựng, công nghiệp và các mục đích khác. Đất có khả năng sản xuất nông nghiệp của miền Bắc Lào rất thích hợp để trông các loại cây như ngô, đậu tương, cao lương, rau quả phục vụ tiêu dùng trong nước và chế biến xuất khẩu. Miền Bắc Lào được thiên nhiên ưu ái về các loại tài nguyên nhất là tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản… đã góp phần không nhỏ vào sự phát tiển kinh tế của cả vùng.
Tuy nhiên cho đến nay các loại tài nguyên quý hiếm này đã bị suy giảm do các hoạt động khai thác của con người. Tài nguyên du lịch sinh thái, văn hóa và lịch sử: gồm các danh lam thắng cảnh (hang động, thác nước đẹp…), cố đô Luông Pha Băng, Cánh Đồng Chum, các khu rừng nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên, các điểm du lịch văn hóa, các lễ hội truyền thống của các bộ tộc Lào,. là những nguồn lực quan trọng góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của toàn vùng Bắc Lào. Với tiềm năng to lớn về du lịch cảnh quan sinh thái và lịch sử văn hóa, cùng 1 Trương Duy Hòa, Kinh tế Bắc Lào và khả năng kết hợp Kinh tế miền Bắc Lào và khả năng hợp tác với khu vực Tây Bắc Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 8,tr 20 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với hệ thống giao thông đường bộ, đường hàng không ngày càng phát triển, miền Bắc Lào có khả năng hội nhập và kết nối du lịch các quốc gia khác trong tiểu vùng Mê Kông như Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia.2 Mặc dù có điều kiện khá thuận lợi về vị trí địa lý vì tiếp giáp với 4 nước láng giềng, các hoạt động kinh tế đối ngoại của vùng Bắc Lào vẫn chỉ giới hạn ở các hoạt động thương mại, du lịch quy mô nhỏ của tư nhân trong nước.
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chiếm vị trí quan trọng trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội. Tuy nhiên, nguồn vốn này phụ thuộc vào chính sách điều tiết ODA của chính phủ. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội , văn hóa của tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào trƣớc năm 2000 * Sơn La: Trước năm 1986, mặc dù kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La, nhân dân các dân tộc Sơn La đã hăng hái thi đua lao động sản xuất, vượt qua những khó khăn, thử thách, vừa chuyển hướng sản xuất, khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, vừa nhanh chóng ổn định lại tổ chức và hoạt động sản xuất. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, V và các Nghị quyết Đại hội Đại hội lần thứ IV, V, VI, VII của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Sơn La đã triển khai và thực hiện các phong trào cách mạng ở địa phương, hòa nhịp với phong trào của cả nước, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng kinh tế - xã hội của Đảng bộ đã đề ra, ổn định đời sống, hoàn thành kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ ba (1981-1985), giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm an toàn trật tự xã hội.
Công tác quản lý kinh tế, tổ chức lao động, chăm lo đời 2 Trương Duy Hòa, Kinh tế Bắc Lào và khả năng kết hợp Kinh tế miền Bắc Lào và khả năng hợp tác với khu vực Tây Bắc Việt Nam,tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 8, tr 21. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sống vật chất và tinh thần cho nhân dân có chuyển biến, các mặt văn hóa - xã hội, y tế được quan tâm. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII (10/1986), Đại hội đã đánh giá thực trạng nền kinh tế xã hội của địa phương và nhấn mạnh: “Nền kinh tế tự cấp tự túc vẫn là cơ bản, chưa được tổ chức sản xuất theo hướng kinh tế nông - lâm - công nghiệp hợp lý, sản xuất nông nghiệp chưa thực sự chú trọng thâm canh tăng vụ, công nghiệp nói chung còn nhỏ bé, 80% lao động dồn vào sản xuất nông nghiệp, lưu thông phân phối rối ren, hàng hóa khan hiếm, giá cả thị trường biến động. Mặt khác, việc định canh, định cư cho đồng bào, di chuyển dân khỏi vùng lòng hồ Sông Đà chưa ổn định, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn.” Kiên trì, bền bỉ vượt khó trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ Sơn La vận dụng sáng tạo những đường lối chủ trương đổi mới của Đảng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể ở địa phương, nền kinh tế Sơn La bước đầu có sự khởi sắc, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa, bước đầu phát huy các lợi thế kinh tế miền núi như mặt trận kinh tế nông nghiệp có bước chuyển biến rõ rệt.
Tỷ lệ cây công nghiệp, cây thực phẩm tăng từ 9% (1985) lên 14% (1990) so với tổng diện tích gieo trồng.