CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ TỶ SỐ TÀI CHÍNH 1.1 KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ Ý KIẾN KIỂM TOÁN 1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán (Quốc hội, 2011). Theo chuẩn mực kiểm toán số 200, mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và các công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về sự trình bày trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, về sự tuân thủ pháp luật và các quy định nhà nước của đơn vị được kiểm toán (Bộ Tài chính, 1999). Như vậy, ý kiến kiểm toán là mục đích sau cùng của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính. Ý kiến kiểm toán phản ảnh tổng hợp kết quả công việc kiểm toán và cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính một sự đảm bảo hợp lý.2 Các dạng ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính 1.1 Căn cứ vào chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700, điều 34 quy định: căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến về báo cáo tài chính, như sau: − Ý kiến chấp nhận toàn phần − Ý kiến chấp nhận từng phần − Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến) − Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược) 5 Đối với những báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần.
Trong trường hợp kiểm toán viên không thu thập được bằng chứng kiểm toán cần thiết và không thực hiện được thủ tục thay thế phù hợp, nếu ảnh hưởng của giới hạn phạm vi kiểm toán nêu trên được xem là trọng yếu nhưng chưa ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng ngoại trừ (do giới hạn phạm vi kiểm toán); nhưng nếu ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên xem xét đến ý kiến từ chối đưa ra ý kiến. Trong trường hợp kiểm toán viên và ban giám đốc bất đồng ý kiến trong việc trình bày một hoặc vài khoản mục trên báo cáo tài chính dẫn đến sai lệch trọng yếu nhưng chưa ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng ngoại trừ (do không nhất trí với ban giám đốc); nhưng nếu ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến không chấp nhận. Đối với trường hợp tồn tại sự kiện không chắc chắn xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên, nếu sự kiện đó được xem là có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào. Bên cạnh việc đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cũng có thể trình bày đoạn nhấn mạnh về một số các yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến báo cáo tài chính nhưng không làm thay đổi ý kiến của kiểm toán viên.
Các vấn đề thường được kiểm toán viên lưu ý là khi thông tin đính kèm với báo cáo tài chính không nhất quán với báo cáo tài chính, hoặc khi khách hang còn tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu liên quan đến điều kiện gây ra nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục và thông tin này đã được công bố đầy đủ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính… 6 1.2 Đổi mới chuẩn mực kiểm toán về báo cáo kiểm toán tại Việt Nam Nhằm mục tiêu hướng đến xu thế hội nhập hoàn toàn với quốc tế trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được soạn thảo lại có nội dung tương tự với chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Chuẩn mực kiểm toán mới (dự thảo) gồm 36 chuẩn mực. Liên quan đến báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán có ba chuẩn mực: − VSA 700 – Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính. − VSA 705 – Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần − VSA 706 – Đoạn nhấn mạnh vấn đề và vấn đề khác trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính.
So sánh hai hệ thống chuẩn mực này về phương diện ý kiến kiểm toán, ta thấy có hai điểm khác nhau cơ bản. Thứ nhất, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam sắp ban hành gộp ý kiến ngoại trừ, ý kiến không chấp nhận và ý kiến từ chối đưa ra ý kiến thành dạng ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần. Vậy theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam dự thảo phân loại thành hai dạng ý kiến kiểm toán chính là ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần. Thứ hai, khi có yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn liên quan đến sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và kiểm toán viên thì kiểm toán đưa ra ý kiến có đoạn nhấn mạnh thay vì ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào.
Vậy, chuẩn mực kiểm toán dự thảo đã loại bỏ ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào. Các chuẩn mực trên còn đang trong giai đoạn chuẩn bị ban hành. Những thay đổi cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế sẽ giúp Việt Nam mau hòa nhập với các thông lệ chung trên thế giới.2 TỶ SỐ TÀI CHÍNH 1.1 Khái quát về tỷ số tài chính Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của một doanh nghiệp, người ta thường sử dụng các tỷ số tài chính. Tỷ số tài chính là giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa hai hay nhiều số liệu tài chính với nhau.
Các tỷ số tài chính khi đứng một mình cung cấp thông tin khá hạn chế. Chúng chỉ hữu ích thực sự khi được so sánh giữa các kỳ với nhau, giữa tỷ số của doanh nghiệp với số liệu của các doanh nghiệp trong ngành hoặc giữa thực hiện với kế hoạch. Vì vậy, phương pháp phân tích tỷ số tài chính chủ yếu là so sánh. Tỷ số tài chính giúp nhà phân tích tìm ra được xu hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như giúp nhà đầu tư hoặc các chủ nợ kiểm tra được tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Vấn đề đặt ra là tại sao chúng ta không sử dụng các số liệu của các khoản mục có sẵn trên báo cáo tài chính để so sánh mà lại sử dụng tỷ số tài chính. Có hai lý do cho việc sử dụng các tỷ số tài chính: Thứ nhất, khi ta so sánh khả năng sinh lời của hai doanh nghiệp, chúng ta không thể chỉ lấy lợi nhuận của chúng so sánh với nhau. Bởi vì với cùng mức lợi nhuận như nhau trong khoảng thời gian như nhau, nhưng doanh nghiệp nào có số tài sản ít hơn thì khả năng sinh lời sẽ cao hơn. Thứ hai, khi so sánh tỷ số tài chính của một công ty với tiêu chuẩn của ngành, người ta thường sử dụng tỷ số tài chính trung bình của ngành.
Sự khác biệt giữa tỷ số tài chính của công ty và tiêu chuẩn của ngành sẽ cho biết tình hình hoạt động của công ty, vị trí của công ty trong ngành.2 Các nhóm tỷ số tài chính chủ yếu Có bốn nhóm tỷ số tài chính chủ yếu là: phân tích khả năng thanh toán, phân tích khả năng hoạt động, phân tích cơ cấu tài chính, phân tích khả năng sinh lời. − Phân tích khả năng thanh toán: khả năng thanh toán là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ khi đến hạn. Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền, các khoản phải thu, tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền như hàng tồn kho. 8 o Tỷ số thanh toán hiện hành (Current Ratio): đo lường khả năng doanh nghiệp thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn.
Tỷ số thanh toán hiện hành được tính bằng công thức sau: Tỷ số thanh toán Tài sản ngắn hạn = hiện hành Nợ ngắn hạn Hệ số này càng cao thì doanh nghiệp có khả năng trả nợ càng lớn nhưng quá cao thì không phải là tốt vì tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp quá nhiều thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ không cao. o Tỷ số thanh toán nhanh (Quick Ratio): đo lường mức thanh khoản cao hơn, chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để tính toán như tiền, khoản đầu tư tài chính ngắn hạn hoặc nợ phải thu ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền. Hàng tồn kho không được xem là tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền nên bị loại ra khi tính tỷ số này. Tỷ số thanh Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho = toán nhanh Nợ ngắn hạn o Tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản (Working capital to total assets ratio): cho thấy tỷ trọng của vốn lưu chuyển so với tổng tài sản.
Trong đó, vốn lưu chuyển được tính bằng cách lấy tài sản ngắn hạn trừ nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu vốn lưu chuyển được dùng để xem xét khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty trong hiện tại. Vì vốn lưu chuyển là một số tuyệt đối nên hạn chế trong việc so sánh giữa các doanh nghiệp khác biệt về quy mô. Vì vậy, tỷ số vốn lưu chuyển trên tài sản giúp hạn chế khuyết điểm này.
Khi tỷ số này âm hoặc nhỏ sẽ phản ảnh một khả năng thanh toán kém. Tỷ số vốn lưu chuyển Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn = trên tổng tài sản Tổng Tài sản 9 − Phân tích khả năng hoạt động: các tỷ số tài chính phân tích khả năng hoạt động của doanh nghiệp được dùng để đo lường khả năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp, đồng thời cho thấy tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp. o Vòng quay tổng tài sản (Total Asset Turnover Ratio): đo hiệu quả sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp.