Chương 1 đã trình bày các nội dung khái quát về đề tài như: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu. Trên cơ sở các nội dung khái quát đó, Chương 2 tiến hành nghiên cứu cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài, làm cơ sở, căn cứ cho việc nghiên cứu ở các chương tiếp theo. Nội dung của Chương 2 tập trung nghiên cứu các lý thuyết về gian lận, điều chỉnh lợi nhuận, động cơ điều chỉnh lợi nhuận, các yếu tố tác động hạn chế hoạt động điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp và một số nghiên cứu trước liên quan đến đề tài. Điều chỉnh lợi nhuận Điều chỉnh lợi nhuận là “một sự can thiệp cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” (Schipper, 1989).
Theo Healy và Wahlen (1999), điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi “nhà quản lý quản trị báo cáo tài chính và cơ cấu giao dịch để thay đổi báo cáo tài chính hoặc là đánh lừa một số bên liên quan về kết quả kinh doanh của công ty”. Theo Scott (1997), điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty. Theo McKee (2005), điều chỉnh lợi nhuận là “những quyết định hợp lý và hợp pháp trong việc lập và báo cáo số liệu để đạt những chỉ tiêu tài chính ổn định và có thể được dự báo trước”. Mặt khác, điều chỉnh lợi nhuận là hiện tượng phổ biến nhằm thao tác để tăng hoặc giảm lợi nhuận báo cáo để đạt được các mục tiêu khác nhau như: đạt được các tiêu chuẩn lợi nhuận (Degeorge và cộng sự, 1999; Dechow và Dichev, 2002; Osma, 2008); tăng giá cổ phiếu (Schipper, 1989).
Nguyễn Công Phương (2010) định nghĩa: “Điều chỉnh lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán”. Đường Nguyễn Hưng (2013), định nghĩa: “Điều chỉnh lợi nhuận là việc người quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố báo cáo tài chính và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo tài 6 chính nhằm đánh lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán”. Có nhiều nghiên cứu liên quan đến điều chỉnh lợi nhuận, trong đó phần lớn là tập trung vào (i) Điều chỉnh lợi nhuận bằng kế toán dồn tích (AE) và một số nghiên cứu về (ii) Điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch thực (RE). Mục đích cuối cùng của cả hai phương pháp phương pháp này là làm thay đổi số liệu báo cáo tài chính, đặc biệt là số liệu lợi nhuận của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Dechow and Sloan, 1991; Friedlan, 1994; Rangan, 1998; Teoh và cộng sự, 1998a; 1998b; 1998c; Cheng and Warfield, 2005; Roychowdhury, 2006; Cohen và cộng sự, 2008; Cohen và Zarowin, 2010; Gunny, 2010; Kothari và cộng sự, 2012; Zang, 2012).
Tuy nhiên, hai phương pháp được thực hiện theo những cách khác nhau và có những tác động khác nhau lên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong phương pháp thứ nhất (AE), các nhà quản trị sử dụng linh hoạt những phương pháp kế toán, chính sách kế toán và ước tính kế toán để có thể thay đổi số liệu kế toán như mong muốn. Có thể kể đến một số ví dụ tiêu biểu như chuyển đổi giữa cách tính FIFO và LIFO để thay đổi giá vốn hàng bán trong kỳ, hay thay đổi mức chi trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính để điều chỉnh chi phí và lợi nhuận. Về mặt bản chất, phương pháp này không làm thay đổi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực của doanh nghiệp, mà chỉ ảnh hưởng đến số liệu báo cáo (Dechow and Sloan, 1991; Jones, 1991; Friedlan, 1994).
Với phương pháp thứ hai (RE), các nhà quản trị đưa ra những quyết định quản trị liên quan đến việc tác động lên doanh thu, chi phí thực như cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo hay sản xuất nhiều sản phẩm hơn mức cần thiết để làm tổng chi phí giảm, nới lỏng chính sách trả chậm để tăng doanh thu hay lựa chọn thời điểm bán các tài sản để tăng lợi nhuận… Như vậy, sử dụng phương pháp này có thể thay đổi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực của doanh nghiệp theo chiều hướng tích cực trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn, việc ra các quyết định như cắt giảm các chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo hay bán các tài sản đang hoạt động tốt có thể làm giảm các khoản lợi nhuận tiềm năng trong tương lai, tác động tiêu cực đến hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp (Cohen, 2008; Cohen và Zarowin, 2010; Kothari và cộng sự, 2012).1: Sự khác nhau giữa gian lận kế toán và điều chỉnh lợi nhuận. Các lựa chọn kế toán Các lựa chọn dòng tiền thực Trong giới hạn GAAP - Ghi tăng các mức dự phòng, dự trữ; - Trì hoãn việc bán hàng; Kế toán - Ghi tăng các khoản chi phí R&D; - Tăng chi phí R&D và quảng “thận trọng” - Ghi tăng mức chi phí tái cấu trúc và cáo. giảm giá trị tài sản.
Kế toán - Ghi giảm dự phòng cho các khoản nợ - Cắt giảm chi phí R&D và quảng “trung tính” xấu. Kế toán - Ghi giảm quá mức các khoản dự phòng, - Gia tăng việc bán hàng; “mạo hiểm” dự trữ. Vi phạm GAAP - Ghi nhận trước doanh thu bán hàng trước khi thực hiện; Kế toán - Ghi nhận khống doanh thu bán hàng; “gian lận” - Ghi lùi ngày hóa đơn bán hàng; - Ghi nhận tăng hàng tồn kho – ghi khống hàng tồn kho (Nguồn: Dechow and Skinner, 2000, Trang 239) 2. Chuẩn mực kiểm toán số 240 (VSA 240) Đây là một trong số 41 Chuẩn mực kiểm toán đang được sử dụng ở Việt Nam, được ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014.
Trong đó, Chuẩn mực “quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính”. Tương tự Chuẩn mực kiểm toán số 240 của quốc tế (ISA 240) và số 99 của Mỹ (SAS 99), VSA 240 yêu cầu các kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính dựa trên các yếu tố động cơ/áp lực, cơ hội và thái độ hay khả năng hợp lý hóa. Đây là ba nhân tố chính của tam giác gian lận được đề xuất bởi Cressey (1953). Cơ sở thực hiện điều chỉnh lợi nhuận 2.
Điều chỉnh lợi nhuận bằng kế toán dồn tích (AE) Kế toán theo cơ sở dồn tích là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở căn cứ vào thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế để ghi nhận. Theo Chuẩn mực kế toán số 01 (2002), “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của công ty liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh giao dịch, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền”. Kế toán theo cơ sở tiền: Ngược lại với kế toán theo cơ sở dồn tích, kế toán theo cơ sở tiền là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở thực thu - thực chi tiền, chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền. Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong một kỳ sẽ bằng nhau.
Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay chỉ được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (đặc biệt là báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp trực tiếp). Kế toán theo cơ sở tiền có một ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao. Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động “hữu hình”, số tiền và ngày thu, chi tiền được xác định chính xác, cụ thể không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị doanh nghiệp. Chế độ kế toán hiện hành quy định rằng: “Doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo cơ sở kế toán dồn tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền” (Chuẩn mực kế toán số 21, 2003).
Điều này mang lại cơ hội cho nhà quản trị thực hiện việc điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào đó. Trong khi đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên nhà quản trị không thể điều chỉnh các giao dịch. Do đó, số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thể hiện ý chí chủ quan củ a nhà quả n lý và nhà kế toán. Trong khi đó, báo cáo lư u chuyể n tiề n tệ đư ơ ̣c lập trên cơ sở dòng tiề n, nghıã là báo cáo này că n cứ vào dòng tiề n thực thu vào và thực chi ra để trình bày.
Chính vì vậy, giữa dòng tiề n trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ và lơ ̣i nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ có một độ vênh. Các nhà nghiên cứu kế toán go ̣i độ vênh đó là biế n kế toán dồ n tích (Total Accruals-TA) và đư ơ ̣c tính bằ ng công thức: Biến kế toán dồn Lợi nhuận sau Lưu chuyển tiền thuần từ tích (TA) = thuế - hoạt động kinh doanh 9 Phạm Thị Bích Vân (2013) đã tổng hợp các phương án có thể vận dụng để điều chỉnh lợi nhuận bằng kế toán dồn tích của doanh nghiệp như sau: 2. Lựa chọn phương pháp kế toán Lựa chọn phương pháp kế toán có ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí (và kết quả là ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận lợi nhuận). Lựa chọn một (hoặc một số) phương pháp kế toán cho phép ghi nhận doanh thu sớm hơn và chuyển dịch ghi nhận chi phí về sau sẽ làm tăng lợi nhuận báo cáo trong kỳ, và ngược lại.