Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận về phân tích và định giá cổ phiếu. Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Ứng dụng vào phân tích và định giá cổ phiếu DPR của Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú. Chương 4: Kiến nghị đầu tư và một số bình luận về kết quả nghiên cứu.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ Ý UẬN VỀ PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU 1.Tổn quan tìn ìn n i n cứu Phân tích và định giá cổ phiếu của công ty là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản trị, nhà đầu tư và đối tượng khác quan tâm. Thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu: Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của Vũ Thị Minh Thục (2011)– Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội về “Định giá giá trị công ty Cổ phần nhựa Việt Nam”, luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của việc xác định giá trị công ty, công tác định giá công ty và nghiên cứu một số phương pháp xác định giá trị công ty đang được sử dụng phổ biến trên thế giới qua đó áp dụng định giá giá trị Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam. Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng của Trần Thị Thùy Hương (2012) – Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội về “Định giá Công ty cổ phần Nhựa Tiền phong”, luận văn đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản về công tác định giá công ty vận dụng vào định giá công ty tại Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong qua một số phương pháp khác nhau như Luồng tiền tự do (FCFF), Luồng tiền chiết khấu (DCF) và giá trị kinh tế gia tăng (EVA).
Bài đăng trên Tạp chí Công nghệ Ngân hàng số 15 năm 2007 của Thạc sĩ Dương Hùng Sơn với nghiên cứu “Lựa ch n phương pháp định giá cổ phiếu – Lý thuyết và ứng dụng thực tiễn vào Việt am”. Bài viết đã trình bày các phương pháp định giá cổ phiếu như: Phương pháp tài sản thuần, Phương pháp chiết khấu dòng tiền, Phương pháp sử dụng chỉ số để xác định nhanh giá cổ phiếu, từ đó trình bày cách thức vận dụng cổ phiếu tại Việt Nam trong giai đoạn năm 2007. Bài đăng trên Tạp chí Khoa học & Công Nghệ số 105 (05) của Trần Thị Ngọc Linh và Vũ Thị Loan – Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên nghiên cứu “Áp dụng mô hình thu nhập thặng dư để xác định giá trị công ty”. Bài viết trình bày nghiên cứu về mô hình hiện tại hóa thu nhập thặng dư 4 (Residual Income Model).
Nghiên cứu này cung cấp cách xử lý các thông tin kế toán trong các năm trong quá khứ của công ty để đưa ra các dự báo về các báo cáo tài chính cho các năm tiếp theo. Từ đó, thu nhập thặng dư sẽ được ước tính để xác đaịnh giá trị cổ phiếu. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số giả thiết và nguyên tắc khi vận dụng mô hình này. Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 3 của Nguyễn Thị Hoàng Giang và Bùi Thị Hồng Nhung – Trường Đại học Nông nghiệp nghiên cứu “Áp dụng mô hình định giá tương đối với các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”.
Bài viết nghiên cứu phương pháp định giá tương đối với chỉ số P/B và P/E với 307 mã cổ phiếu trên sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 từ đó đưa ra kết luận về vận dụng chỉ số tương đối trong việc xây dựng mô hình định giá tương đối, hiệu quả sử dụng chỉ số tương đối khi kết hợp với phân loại ngành và các chỉ số cơ bản như ROE, ROA để cải thiện kết quả đầu tư, ý nghĩa của chỉ số tương đối trong thống kê và dự đoán giá cổ phiếu. Bài đăng trên Procedia Economics and Finance 36 ( 2016 ) của Samaneh Sharafoddin and Elmira Emsia - Department of Accounting, Islamic Azad University Damghan Branch, Damghan, Iran với chủ đề : “The Effect of Stock Valuation on the Company's Management”. Nghiên cứu này thử nghiệm mối quan hệ giữa định giá cổ phiếu và việc quản lý công ty. Về vấn đề này, nghiên cứu sử dụng phương pháp lý luận và thực tế thử nghiệm trên 25 công ty tại Sàn giao dịch chứng khoán Tehran từ năm 2009 tới 2013 với 125 quan sát.
Kết quả của nghiên cứu cho rằng thành công của nhà quản lý trong việc định giá cổ phiếu phụ thuộc vào sự hiểu biết đúng về nguồn lực và khuyến nghị nhà quản lý làm tăng giá trị cổ phiếu công ty bằng cách tập trung vào các yếu tố liên quan tới định giá cổ phiếu trong thông tin quản trị của công ty. Bài đăng trên Procedia Economics and Finance, Volume 30, 2015 của Harshita, Singh, S, Yadav, Surendra S - Department of Management Studies,Indian Institute of Technology Delhi,Vishwakarma Bhawan, Hauz Khas, New Delhi 110016, India nghiên cứu về: “Indian stock market and the asset pricing models”. 5 Nghiên cứu này thử nhiệm và so sánh hiệu suất của 3 mô hình định giá tài sản: Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), mô hình 3 nhân tố của Fama và French (1993) và mô hình 5 nhân tố của Fama và French (2015) vào thị trường chứng khoán Ấn Độ. Nghiên cứu dựa trên thông tin của các công ty thuộc CNX 500 với dữ liệu 15 năm (từ 8/1999 – 9/2014).
Mô hình thử nghiệm trên danh mục đầu tư hình thành với 4 yếu tổ đặc trưng: Vốn hóa thị trường, hệ số giá trị sổ sách và giá trị thị trường, lợi nhuận và đầu tư. Nghiên cứu rút ra kết luận mô hình 3 nhân tố tốt hơn mô hình CAPM trong mọi trường hợp. Đối với danh mục hình thành trên cơ sở đầu tư, mô hình 5 nhân tố tốt hơn các mô hình khác. Tuy nhiên ngoại trừ trong trường hợp danh mục dựa trên đầu tư, mô hình với 4 yếu tố (bỏ qua đầu tư) là mô hình hiệu quả hơn cả.
Tóm lại, Các công trình nghiên cứu về phân tích và định giá cổ phiếu của các tác giả mặc dù đã đưa ra được cách thức, cơ sở và rút ra được các kết luận có ý nghĩa trong ứng dụng đầu tư cổ phiếu. Tuy nhiên một số công trình nghiên cứu dữ liệu không còn tính thời sự và chưa áp dụng với dữ liệu của thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời với những biến động lớn trong thị trường tài chính thời gian gần đây như sự sụt giảm giá nhanh chóng của giá cao su, giá dầu, sự tăng giá của đồng USD, việc Anh rời khỏi liên minh châu Âu (Brexit),….dẫn đến việc nghiên cứu về phân tích và định giá cổ phiếu trong điều kiện thực tế hiện tại trên góc độ một nhà đầu tư cá nhân là rất cần thiết để đem lại hiệu quả cho việc đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Cơ sở lý t uyết về p ân t c và địn iá cổ p iếu côn ty 1. Cổ phiếu và giá trị cổ phiếu 1.
Cổ phiếu phổ thông và quyền lợi của cổ đông Theo Bạch Đức Hiển (2008) cổ phiếu phổ thông là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối vối công ty và xác nhận cho phép cổ đông được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty. Người nắm giữ cổ phiếu phổ thông là cổ đông phổ thông và là đồng chủ sở hữu của công ty cổ phần, cổ phiếu phổ thông có những đặc điểm chủ yếu sau: 6 - Cổ tức của cổ phiếu phổ thông không cố định, phụ thuộc vào mức lợi nhuận sau thuế thu được hàng năm của công ty và chính sách chia lợi tức cổ phần của công ty. Khi công ty thành đạt trong hoạt động kinh doanh, các cổ đông phổ thông sẽ được chia cổ tức và cổ tức cao. Khi công ty thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, các cổ đông phổ thông sẽ không có cổ tức hoặc cổ tức thấp.
Ngay trong trường hợp công ty hoạt động tốt, lợi nhuận sau thuế thu được cao, cổ tức mà cổ đông phổ thông nhận được vẫn có thể không cao do chính sách chia lợi tức cổ phần của công ty dành tỷ lệ cho tích lũy cao. - Cổ phiếu của công ty không có thời hạn hoàn trả vì đây không phải là khoản nợ đối với công ty. Cổ đông phổ thông trong công ty có các quyền chủ yếu sau: - Quyền tham dự và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông, quyển được thông tin và kiểm tra các sổ sách và hồ sơ của Công ty thông qua Ban kiểm soát do Đại hội cổ đông bầu ra. Quyền được tham gia quyết định tất cả các vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động_của công ty như sáp nhập, thanh lý hay phát hành thêm cổ phiếu mới.
- Quyền đối với tài sản của công ty: Quyền này được thể hiện trước hết là quyền được nhận phần lợi nhuận của công ty chia cho cổ đông dưới hình thức lợi tức cổ phần hay còn được gọi là cổ tức sau khi được Hội đồng quản trị công bố. Cổ đông phổ thông còn có quyền được chia phần giá trị tài sản còn lại khi thanh lý công ty sau khi công ty đã thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho các cổ đông ưu đãi. - Quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần: người góp vốn vào công ty không được quyền trực tiếp rút vốn ra khỏi công ty, nhưng được quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần dưới hình thức bán lại cổ phiếu hoặc dưới hình thức quà tặng hay để lại cho người thừa kế. Điều này tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu công ty, đồng thời cũng hấp dẫn người đầu tư.
- Quyền được ưu tiên mua cổ phiếu mới: khi công ty phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông hiện đang nắm giữ cổ phiếu thưòng có quyền được mua 7 trước cổ phiếu mới, trước khi đợt phát hành được chào bán ra công chúng, trong một thời gian nhất định. Lượng cổ phiếu mới được phép mua theo quyền này tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu đang nắm giữ. Như vậy, quyền này cho phép cổ đông hiện hữu duy trì tỷ lệ sở hữu của mình trong công ty sau khi công ty đã tăng thêm vốn. Mỗi cổ phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông một quyển mua trước.
Số lượng quyền cần có để mua một cổ phiếu mới, giá mua và thời hạn của quyền mua được quy định cụ thể trong từng đợt phát hành cổ phiếu mói.