Chương 1. Cơ sở nghiên cứu quá trình đồng cháy của than và sinh khối. Mô phỏng CFD quá trình đồng cháy của than và sinh khối. Phân tích kết quả cháy than và sinh khối trong lò hơi ngọn lửa hình W.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đồng cháy than và sinh khối trong lò hơi ngọn lửa hình W. Kết luận và kiến nghị.2 Đặc tính và tính chất của nhiên liệu sinh khối 1.1 Nguồn gốc, phân loại Có nhiều loại nhiên liệu sinh khối có sẵn trong môi trường khác nhau, từ gỗ đến vật liệu có nguồn gốc từ cỏ và rơm. Có một sự thay đổi đáng kể về tính chất của nhiên liệu sinh khối so với tính chất than. Để đốt cháy các loại sinh khối khác nhau trong nhà máy điện, các loại khí hóa khác nhau là các hệ thống đã được sử dụng.
Nói chung, nhiên liệu sinh khối được phân loại tùy thuộc vào nguồn gốc và tính chất của chúng. Dựa trên nguồn gốc, chúng có thể được phân loại thành bốn loại như phế liệu sơ cấp, phế liệu thứ cấp, phế liệu cấp ba và cây trồng năng lượng. Phế liệu sơ cấp bao gồm sinh khối như gỗ, rơm, ngũ cốc, ngô, v. chúng thường được lấy từ các sản phẩm bổ trợ của lâm sản và cây lương thực.
Phế liệu thứ cấp bao gồm các nhà máy cưa và giấy, ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống, hạt mơ, v. Phế liệu thứ cấp có nguồn gốc từ chế biến vật liệu sinh khối cho sản xuất công nghiệp và thực phẩm. Phế liệu cấp ba bao gồm chất thải và gỗ phá hủy, v. Chúng có nguồn gốc từ các vật liệu sinh khối được sử dụng khác.
Ngoài ra, sinh khối có thể được phân loại dựa trên các thuộc tính. Chúng bao gồm sinh khối gỗ; sinh khối thân thảo; chất thải có nguồn gốc sinh khối; sinh khối thủy sinh (tảo, v.2 Cấu trúc và thành phần hóa học của sinh khối: Trong sinh khối, hàm lượng tro tương đối cao hơn và ít nitơ được quan sát. Độ ẩm trong nhiên liệu sinh khối luôn cao so với than đá, và hàm lượng clo cao hơn cũng than. Nhưng nhiên liệu sinh khối sở hữu giá nhiệt trị thấp hơn than.
Những tính chất này ảnh hưởng đến thiết kế, vận hành và hiệu suất của các hệ thống đồng đốt. Bảng 1-1 tóm tắt phân tích hóa học và tính chất của nhiên liệu sinh khối được chọn được sử dụng cho các nghiên cứu đồng đốt khác nhau.3 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về quá trình đồng đốt 1.1 Ngoài nước Công nghệ đồng đốt đã được phát triển từ vài thập kỷ trước do sự quan tâm đến các vấn ¯ề liên quan đến ô nhiễm môi trường từ nhiên liệu than trong các nhà máy nhiệt điện. Công nghệ ¯ồng đốt kết hợp than và sinh khối là giải pháp hữu hiệu để giảm phát thải CO2 từ các nhà máy nhiệt điện [4]. Cụ thể, sự giảm phát 5 thải theo MWhe được đưa ra trên biểu đồ sau theo mức độ đồng đốt với sinh khối Hình 1.
Theo đó tỷ lệ sinh khối càng cao thì độ giảm phát thải khí nhà kính sẽ càng tăng. Theo ước tính cứ 10% đồng đốt sinh khối có thể giảm phát thải CO2 từ 45 tới 450 triệu tấn/năm tới năm 2035. Số liệu của IEA Clean Coal center năm 2009 có tới 169 nhà máy đã được triển khai công nghệ đồng đốt, trong đó Phần Lan là quốc gia có số nhà máy nhiệt điện áp dụng công nghệ đồng đốt nhiều nhất. Số liệu trên thế giới năm 2009 là 243 nhà máy, trong đó công nghệ đồng đốt được ứng dụng chủ yếu trong lò hơi đốt than phun, lò tầng sôi và tầng sôi tuần hoàn [5].3 Độ giảm phát thải CO2/MWhe theo tỷ lệ sinh khối [4] Tới năm 2010 công nghệ đồng đốt đã áp dụng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó khu vực Châu Âu và Mỹ là nơi có số lượng nhiều nhất; nhà máy Drax a UK của Anh được biết đến là dự án đồng đốt lớn nhất trên thế giới với công suất tới 4000 MW.
Tại Châu Á với các quốc gia đã áp dụng từ sớm như Thái Lan, Indonesia, Đài Loan. Tuy nhiên, các quốc gia lớn ở Châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đang cho thấy khả năng triển khai lớn ở các quốc gia này. Tại Hàn Quốc có đến 1.097 MW điện từ công nghệ đồng đốt tính đến năm 2019; trong đó các nhà máy có công suất lớn trên 1000MW tỷ lệ đồng đốt từ 3-5%, các nhà máy nhỏ dưới từ 200-350MW có tỷ lệ đồng đốt từ 30-50% sinh khối[5]. Công nghệ đồng đốt trên thế giới, các mô hình đồng đốt sinh khối hiện nay được nhiều tác giả đề cập [6].
Chủ yếu gồm : Đồng đốt trực tiếp; đồng đốt gián tiếp; đồng đốt song song, được thể hiện như Hình 1. 6 Bảng 1-1 Tóm tắt tính chất hóa học của một số nhiên liệu sinh khối[3].4 Phân bố các nhà máy phát điện sử dụng công nghệ đồng đốt trên thế giới [5] Hình 1.5 Sơ đồ các công nghệ đồng đốt hiện nay[6]. Cả ba công nghệ này đều có thể được sử dụng trong lò hơi nhà máy nhiệt điện. Tuy nhiên, tùy thuộc vào ưu nhược điểm của từng loại mà sẽ phải lựa chọn công nghệ phù hợp với từng nhà máy và loại nhiên liệu sinh khối.
Về mặt kinh tế, chi phí để áp dụng công nghệ đồng đốt trực tiếp là thấp nhất và khả thi cho đầu tư, cụ thể: đầu tư bổ sung hệ thống đồng đốt cho các nhà máy nhiệt điện sẽ là khoảng 430-450 USD/kWe khi đốt trực tiếp hỗn hợp than và sinh khối; từ 760-900 USD/kWe cho hệ thống đốt trực tiếp cấp riêng rẽ hỗn hợp và 3000-4000 USD/kWe cho hệ thống đồng đốt gián tiếp[5]. Đặc điểm của 3 loại phương pháp này như sau: (i) Phương pháp đồng đốt trực tiếp (Direct co-firing): là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất đặc biệt cho lò than phun do đơn giản nhất và chi phí đầu tư 8 thấp nhất khi lắp bổ sung cho các nhà nhà máy đã hoạt động. Công nghệ này có thuận lợi là đạt được hiệu suất cao trong các lò hơi công suất lớn và cải thiện khả năng cháy trong buồng đốt do sinh khối có hàm lượng chất bốc cao, mặc dù còn có một số hạn chế là vấn đề đóng xỉ, giới hạn tỷ lệ sinh khối, và thiếu linh hoạt trong sử dụng các loại sinh khối khác nhau[7]. (ii) Phương pháp đồng đốt gián tiếp (Indirect co-firing): sẽ có thêm một thiết bị khí hóa tách riêng.
Tại đó, quá trình khí hóa sẽ tạo ra các khí thành phẩm. Phương pháp này có chi phí đầu tư cao do có thêm hệ thống khí hóa riêng. Tuy nhiên, nó cho phép đốt với nhiều loại sinh khối khác nhau và tỷ lệ sinh khối cao hơn. Công nghệ này cũng làm giảm đáng kể hiện tượng đóng xỉ bởi vì sinh khối không được đưa vào bên trong buồng đốt than.
(iii) Phương pháp đồng đốt song song (Parallel co-firing): Trong hệ thống đồng đốt song song thì sinh khối và than được cấp riêng rẽ vào lò hơi, hơi được tạo ra trong lò đốt sinh khối được trộn lẫn với hơi sản xuất từ lò hơi đốt than. Trong nhà máy nhiệt điện, hiện nay, phương pháp được áp dụng phổ biến nhất là công nghệ đồng đốt trực tiếp do là công nghệ có mức chi phí đầu tư thấp và không làm ảnh hưởng nhiều đến kết cấu và hiệu quả làm việc của lò, tuy nhiên, mức độ đồng đốt thường dưới 10%. Có 3 phương án lựa chọn cho phương pháp đồng đốt sinh khối trực tiếp với than trong lò hơi như sau: (1) Sử dụng cùng máy nghiền và vòi phun: Theo cách này bị ảnh hưởng bởi kích thước hạt và độ khô sinh khối, sử dụng cho một số nhiên liệu dạng viên nén được ép nén từ mùn cưa. Tỷ lệ đốt sinh khối <5%, sử dụng viên nén có chất bốc cao, có nhiệt trị thấp, có vấn đề về hệ thống phun do kích thước hạt sinh khối lớn hơn hạt than, có thể giảm được công suất máy nghiền của nhà máy.
(2) Sử dụng máy nghiền riêng, cùng vòi phun: Cách này phù hợp với viên nén gỗ, cho phép nghiền tới kích thước hạt sinh khối tối ưu. (3) Sử dụng máy nghiền riêng và vòi phun riêng: Cách này sẽ làm thay đổi lớn đối với lò hơi và không được lựa chọn phổ biến do ảnh hưởng cả về chi phí đầu tư ban đầu. Wijayapala và Mundunkotuwa [8] đã phân tích ưu nhược điểm của phương án đồng đốt (1) và (2) khi áp dụng công nghệ đồng đốt tại Sri lanka cho nhà máy nhiệt điện Lakvijaya. Trong khi đó phương án (3) không được lựa chọn do không phù hợp về mặt bằng kỹ thuật và kinh phí ban đầu.
Đối với 2 phương án đã thống kê trên, thì phương án số 1 có nhiều nhược điểm về mặt kỹ thuật khi so sánh với phương án 2; những vấn đề này không dễ dàng thực hiện được với các các loại sinh khối hiện có. Hệ thống chuẩn bị trộn nguyên liệu than và sinh khối ngay tại kho chứa không được kiểm soát, do đó tỷ lệ đồng đốt cũng không được kiểm soát và dễ bị thay đổi một cách khó lường làm cho quá trình cháy bên trong lò không như mong đợi. Ngoài ra, các máy nghiền than thường sử dụng máy nghiền bi có chỉ số HGI = 45-70, tuy nhiên đặc tính của loại nhiên liệu sinh khối tại Sri Lanka chỉ đạt được là 20 dưới điều kiện vật lý thông thường. Do đó, việc sử dụng chung 9 máy nghiền than là một trở ngại lớn của phương án này.
Một vấn đề nữa là việc chứa chung than và sinh khối trong thời gian từ 8 - 9h, do sinh khối được để vài ngày trong silo thì khí methane sẽ phát ra một lượng nhỏ có khả năng gây cháy. Đây là những vấn đề lớn đối với phương án (1). Đối với phương án (2) có vấn đề là hiện tượng tắc nghẽn đường ống phun khi trộn sinh khối với than. Tuy nhiên, điều này có thể được giảm thiểu bằng cách tính toán, thiết kế lựa chọn nơi gần nhất để lắp bộ phun phối sinh khối để tránh tắc nghẽn dòng.
Về công nghệ lò hơi khi áp dụng công nghệ đồng đốt: Các dạng công nghệ lò hơi chủ yếu được áp dụng cho công nghệ đồng đốt sinh khối được liệt kê theo Bảng 1-3 [6]. Tỷ lệ đốt kèm sinh khối trong lò tầng sôi lớn hơn so với lò than phun mặc dù công nghệ lò hơi đốt than phun rất phổ biến. Nguyên nhân là do lò than phun bị hạn chế về kích thước hạt nhiên liệu sinh khối (kích thước hạt < 10-20mm).