chương 1 và xác định rõ chúng. Giới thiệu về cao lanh Cao lanh (kaolin) là một loại đất sét màu trắng, bở, chịu lựa với thành phần chủ yếu là khoáng vật kaolinit cùng một số khoáng khác như illit, montmorillonite, thạch anh, … Cái tên kaolin còn có nguồn gốc từ Cao Lĩnh thổ (đất Cao Lĩnh) là một vùng đồi ở Cảnh Đức trấn, Giang Tô, Trung Quốc. Vật liệu này khi gặp nước thì dẻo, dễ định hình nhưng khi tiếp xúc với nhiệt độ cao thì thành thể rắn. Theo nguồn gốc phát sinh, có thể chia cao lanh thành hai dạng hình thành là từ nguồn sơ cấp và nguồn thứ cấp.
Cao lanh nguồn sơ cấp được tạo ra từ quá trình phong hóa hóa học hay thủy nhiệt của các loại đá có chứa fenspat như rhyolite, granite, … Nguồn thứ cấp là những loại cao lanh được tạo thành tại những nơi tái trầm lắng do biến đổi thủy nhiệt hay phong hóa hóa học đối với arkose (loại đá trầm tích có hàm lượng fenspat trên 25 %) hoặc từ sự chuyển dịch các nguồn cao lanh sơ cấp đến nơi tái trầm do sự xói mòn. Cấu trúc của kaolinite Kaolinite là thành phần chính chứa trong cao lanh, có công thức hóa học Al2Si2O5 (Al2O3.2SiO2 và Al2O7Si2. Chúng trung hòa về điện và được bảo phủ bởi các lớp tứ diện SiO4 và bát diện Al (O, OH)6. Tuy nhiên, các mạng tinh thể này cũng có những điểm khuyết, mật độ ít hay nhiều của điểm khuyết sẽ ảnh hưởng đến độ chịu nhiệt của cao lanh.
Những mẫu có ít điểm khuyết thì ổn định và quá trình tách hydroxyl bắt đầu ở nhiệt độ cao hơn. Cấu trúc kaolinite [9] 2. Cấu trúc của metakaolinite Metakaolinite được tạo thành từ quá trình dihydroxyl hóa kaolinite, quá trình này phân hủy tinh thể kaolinite dẫn đến mất trật tự cấu trúc làm giảm kích thước tinh thể, tăng độ xốp, sự thay đổi của các đặc tính cơ học, điện tích và khối lượng. Quá trình này xảy ra khi nung nóng kaolinite đến khoảng 420 oC, phương trình được biển diễn như sau [9].
Cấu trúc metakaolintie [9] 6 2. Giới thiệu về zeolite Vào năm 1756, nhà khoáng học Thụy Điển Cronstedt khi quan sát một loại khoáng mới, ông đã phát hiện ra zeolite nhờ hơi nước thoát ra khi nung nóng khoáng này. Tuy nhiên đến năm 1932, McBain đã làm rõ hiệu ứng “rây phân tử” mãi đến năm 1944 Barrer và Ibbitson đã chỉ ra rằng hiệu ứng này cho phép tách n – paraffin và iso – paraffin, bắt đầu từ thời điểm đó nhiều loại zeolite được đưa vào sử dụng và phục vụ các ngành công nghiệp. Năm 1956, nhiều nghiên cứu đầu tiên về việc tổng hợp zeolite và hiện nay đã có tổng cộng hơn 48 loại zeolite tự nhiên được tìm thấy và hơn 140 loại zeolite tổng hợp được ra đời như zeolite LTA, FAU, ZSM – 5, ZSM – 11, … [10].
Hiệp hội zeolite quốc tế (IZA) đã đăng ký 179 cấu trúc zeolite khác nhau và 18 loại được sử dụng cho mục đích thương mại. Zeolite là vật liệu vô cơ có cấu trúc tinh thể với kích thước lỗ xốp xác định, kích thước lỗ xốp đồng nhất giúp ngăn chặn các hạt có kích thước lớn xâm nhập vào mạng tinh thể. Chúng có diện tích bề mặt riêng lớn nên có nhiều ưu điểm nếu được xem là một chất hấp phụ. Bên cạnh đó chúng còn là vật liệu không cháy và chịu nhiệt cao, tạo điều kiện hấp phụ và giải hấp phụ các chất hữu cơ dễ cháy so với xử lý bằng than hoạt tính [11].
Vật liệu zeolite có dạng aluminosilicate tinh thể với cấu trúc không gian ba chiều, lỗ xốp đặc biệt được sắp xếp có trật tự cho phép chung phân chia (rây) phân tử theo hình dạng và kích thước, do đó chúng còn được gọi là hợp chất rây phân tử. Thành phần chủ yếu của zeolite là Si, Al, O2 và một số kim loại kiềm, kiềm thổ khác như Na, K, Ca, Mg. Công thức chung của zeolite như sau [10]. wH2O Trong đó: M: cation có khả năng trao đổi 7 n: hóa trị cation trao đổi y: tỉ số mol SiO2/Al2O3 w: số phân tử nước trong đơn vị cơ sở Theo quy tắc Lowenstein, 2 nguyên tử Al không thể tồn tại lân cận nhau nghĩa là các cấu trúc zeolite không thể tồn tại liên kết Al – O – Al mà chỉ có các liên kết Si – O – Si và Si – O – Al.
Do đó tỉ số SiO2/Al2O3 chỉ tồn tại ≤ y. Tỉ số Si/Al được coi là một đặc trưng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đặc tính hóa lý của zeolite, khi tỉ số tăng thì kéo theo nhiều tính chất như [12]. Tính chất bền nhiệt tăng từ 700 – 1300 oC Cấu trúc thay đổi từ vòng 4, 6, 8 đến vòng 5 Tính chất bề mặt từ ưa nước đến kỵ nước Số tâm acid giảm nhưng lực acid trên tâm lại tăng Dung lượng trao đổi cation giảm Độ bền thủy nhiệt tăng Kích thước ô mạng cơ sở giảm Các peak nhiễu xạ tia X dịch về phía góc 2 cao hơn Số sóng dao động mạng lưới trong phổ hồng ngoại dịch về các giá trị cao Thông thường người ta phân loai zeolite theo nguồn gốc, thành phần hóa học và kích thước mao quản. Theo nguồn gốc, zeolite gồm 2 loại tự nhiên và nhân tạo.
Các loại zeolite tự nhiên thường kém bền và do thành phần hóa học biển đổi đáng kể nên chỉ có một vài loại zeolite tự nhiên có khả năng ứng dụng thực tế như analcime, chabazite, hurdenite, clinoptilonite, … Tuy nhiên chúng chỉ phù hợp với những ứng dụng không yêu cầu độ tinh khiết của vật liệu cao. Trong khi đó, các loại zeolite tổng hợp có thành phần đồng nhất và độ tinh khiết cao, đa dạng về chủng loại nên được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp và nghiên cứu khoa học. 8 Ngoài ra zeolite còn được phân loại dựa vào đơn vị cơ bản (PBU), đơn vị thứ cấp (SBU) và đơn vị tập hợp (CBU). Đối với đơn vị cơ bản (PBU) là các tứ diện AlO4 và SiO4, từ các đơn vị cơ bản này liên kết với những đơn vị cận kề sẽ tạo thành đơn vị thứ cấp (SBU).
Đối với đơn vị tập hợp (CBU), chúng thường là các tập hợp của đơn vị cơ bản (PBU) và thường thể hiện đặc tính của zeolite. Dễ thấy nhất của một đơn vị tập hơn là vòng zeolite, các vòng này là tập hợp của những đơn vị cơ bản (PBU) và thường từ 4 – 12 đơn vị cơ bản. Hình ảnh các đơn vị cơ bản, thứ cấp và tập hợp các loại zeolite [13]. Tính chất cơ bản của zeolite 2.
Tính chất trao đổi ion Nguyên tắc dựa trên hiện tượng trao đổi thuận nghịch hợp thức giữa các cation trong dung dịch với các cation bù trừ điện tích âm trong khung mạng zeolite. Trong quá trình trao đổi, các thông số mạng sẽ không thay đổi nhưng đường kính trung bình của 9 các mao quản sẽ thay đổi. Khả năng trao đổi cation của zeolite phụ thuộc vào các yếu tố sau [12] Bản chất và nồng độ cation trao đổi trong dung dịch Nhiệt độ môi trường Bản chất anion kết hợp với cation trong dung dịch Dung môi hòa tan cation Đặc điểm cấu trúc zeolite pH của dung dịch trao đổi Khi zeolite có đường kính mao quản lớn hơn kích thước của cation trao đổi thì tỉ số Si/Al của zeolite sẽ ảnh hưởng rất lớn. Thông thường các zeolite có tỉ lệ Si/Al càng thấp thì khả năng trao đổi cation càng cao và ngược lại.
Dung lượng trao đổi ion của một số loại zeolite [14] Zeolite Mordenite ZSM - 5 LTA FAU X FAU Y CEC 200 100 540 480 420 (meq/100g) 2. Tính chất acid Tính acid là một trong những tính chất quan trọng của zeolite khi đóng vai trò làm xúc tác. Nhờ khả năng trao đổi cation, zeolite ở dạng trao đổi H+ hoặc các cation kim loại đa hóa trị (Cu2+, Mg2+, Ca2+, …) có chứa hai loại tâm acid là tâm Bronsted và Lewis, các tâm này có thể được hình thành theo cách sau [12] - Phân hủy nhiệt zeolite đã trao đổi cation với NH4+ 10 - Tiếp tục nung sẽ xảy ra quá trình dihydroxyl hóa cấu trúc, tạo một tâm Lewis từ hai tâm Bronsted - Xử lý zeolite trong môi trường acid (đối với các zeoelite bền có tỉ số SiO2/Al2O3 cao) Ngoài ra các tâm acid còn được tạo ra do sự thủy phân các cation đa hóa trị ở nhiệt độ cao và sự khử ion kim loại chuyển tiếp. Độ acid của zeolite được biểu thị qua bản chất, lực và số lượng của tâm acid.
Ngoài ra đặc tính này còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó những yếu tố quyết định là cấu trúc tinh thể zeolite (sự thay đổi gốc liên kết Si – OH – Al), thành phần của zeolite (tỉ số SiO2/Al2O3 khung mạng, sự phân bố Al trong và ngoài mạng), sự thay thế đồng hình Si với các nguyên tố khác như Be, B, Ga, Fe, Ge, P, Ti, … Bản chất và hàm lượng của các cation trao đổi, các điều kiện xử lý nhiệt. Tính chọn lọc hình dạng Chọn lọc hình dạng của zeolite là sự điều khiển theo kích cỡ và sự điều khiển của phân tử, khuếch tán vào và ra khỏi hệ thống mao quản, làm ảnh hưởng đến hoạt tính xúc tác và độ chọn lọc của xúc tác. Tính chất chọn lọc hình dạng của zeolite cũng là tính chất quyết định hiệu quả của phản ứng. Bao gồm ba hình thức chọn lọc hình dạng sau [12] Chọn lọc chất tham gia phản ứng, chỉ có những chất có kích thước phân tử đủ nhỏ và phù hợp mới có thể thâm nhập vào bên trong mao quản của zeolite và tham gia phản ứng 11 Hình 2.
Chọn lọc hình dạng chất tham gia phản ứng Sau khi phản ứng được thực hiện trong mao quản, những sản phẩm tạo ra phải có kích thước đủ nhỏ mới có thể khuếch tán ra ngoài. Các phân tử lớn hơn tạo ra trong mao quản sẽ tiếp tục bị chuyển hóa thành phân tử nhỏ hơn sau đó mới khuếch tán được ra ngoài. Các sản phẩm này có tốc độ khuếch tán ra khỏi mao quản không giống nhau, sản phẩm nào có tốc độ khuếch tán lớn nhất thì độ chọn lọc theo sản phẩm đó lớn nhất. Chọn lọc hình dạng sản phẩm phản ứng Phản ứng ưu tiên hình thành các hợp chất trung gian (hoặc trạng thái chuyển tiếp) có kích thước phù hợp với kích thước mao quản của zeolite.