Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu phương pháp thử định hướng dấu vết máu bằng dung dịch phenolphthalein phục vụ công tác giám định sinh học pháp lý tại việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phương pháp thử định hướng dấu vết máu bằng dung dịch phenolphthalein phục vụ giám định sinh học pháp lý tại Việt Nam.

Trường đại học

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Nội dung nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.6. Cấu trúc của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái niệm về máu về dấu vết máu

1.1.1. Khái niệm về máu

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu phương pháp thử dấu vết máu bằng phenolphthalein

Nghiên cứu phương pháp thử dấu vết máu bằng phenolphthalein tại Việt Nam đang trở thành một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực giám định sinh học pháp lý. Phương pháp này không chỉ giúp xác định dấu vết máu một cách hiệu quả mà còn giảm thiểu rủi ro cho sức khỏe của người thực hiện. Việc sử dụng phenolphthalein thay thế cho các hóa chất độc hại như Benzidine là một bước tiến lớn trong công tác giám định.

1.1. Khái niệm về phenolphthalein và ứng dụng trong giám định

Phenolphthalein là một hợp chất hữu cơ được sử dụng rộng rãi trong các thử nghiệm hóa học. Trong giám định sinh học pháp lý, phenolphthalein được sử dụng để phát hiện dấu vết máu nhờ vào khả năng chuyển màu trong môi trường kiềm. Phương pháp này giúp xác định nhanh chóng và chính xác sự hiện diện của máu tại hiện trường.

1.2. Tính cấp thiết của nghiên cứu phương pháp thử dấu vết máu

Việc nghiên cứu phương pháp thử dấu vết máu bằng phenolphthalein là cần thiết để đáp ứng nhu cầu giám định sinh học pháp lý hiện đại. Phương pháp này không chỉ an toàn hơn mà còn có độ nhạy cao, giúp nâng cao hiệu quả trong công tác điều tra và xét xử các vụ án hình sự.

II. Vấn đề và thách thức trong việc thử dấu vết máu tại Việt Nam

Trong quá trình giám định dấu vết máu, nhiều thách thức đã được đặt ra, đặc biệt là việc sử dụng các hóa chất độc hại như Benzidine. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người giám định mà còn làm giảm hiệu quả của quá trình điều tra. Do đó, việc tìm kiếm các phương pháp thay thế an toàn và hiệu quả là rất cần thiết.

2.1. Những rủi ro khi sử dụng hóa chất độc hại

Sử dụng Benzidine trong giám định dấu vết máu đã gây ra nhiều lo ngại về sức khỏe cho người thực hiện. Benzidine là một chất gây ung thư, và việc tiếp xúc lâu dài có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe. Do đó, cần có các phương pháp thay thế an toàn hơn.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng công nghệ mới

Mặc dù phenolphthalein đã được chứng minh là một phương pháp an toàn và hiệu quả, nhưng việc áp dụng công nghệ mới này trong thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn. Các phòng thí nghiệm cần được trang bị đầy đủ thiết bị và đào tạo nhân lực để thực hiện các phương pháp mới một cách hiệu quả.

III. Phương pháp thử dấu vết máu bằng phenolphthalein Quy trình và kỹ thuật

Phương pháp thử dấu vết máu bằng phenolphthalein bao gồm nhiều bước quan trọng, từ việc chuẩn bị hóa chất đến quy trình thực hiện thử nghiệm. Quy trình này cần được thực hiện một cách chính xác để đảm bảo độ nhạy và độ chính xác của kết quả.

3.1. Quy trình chuẩn bị hóa chất phenolphthalein

Để thực hiện thử nghiệm, cần chuẩn bị dung dịch phenolphthalein trong môi trường kiềm. Quy trình này bao gồm việc hòa tan phenolphthalein trong dung dịch kiềm và điều chỉnh nồng độ phù hợp để đạt được độ nhạy tối ưu trong việc phát hiện dấu vết máu.

3.2. Kỹ thuật thực hiện thử nghiệm dấu vết máu

Kỹ thuật thực hiện thử nghiệm bao gồm việc lấy mẫu và nhỏ dung dịch phenolphthalein lên mẫu thử. Sự chuyển màu sẽ cho thấy sự hiện diện của máu. Kỹ thuật này cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo kết quả chính xác và đáng tin cậy.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của phenolphthalein

Kết quả nghiên cứu cho thấy phenolphthalein có độ nhạy cao trong việc phát hiện dấu vết máu, đồng thời an toàn cho người sử dụng. Phương pháp này đã được thử nghiệm thành công tại nhiều phòng thí nghiệm và đang được áp dụng rộng rãi trong công tác giám định sinh học pháp lý tại Việt Nam.

4.1. Đánh giá độ nhạy của phenolphthalein

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phenolphthalein có độ nhạy tương đương hoặc cao hơn so với các phương pháp truyền thống như Benzidine. Điều này cho thấy phenolphthalein là một lựa chọn khả thi cho việc thử dấu vết máu trong các vụ án hình sự.

4.2. Ứng dụng phenolphthalein trong giám định sinh học pháp lý

Phenolphthalein đã được áp dụng thành công trong nhiều vụ án hình sự tại Việt Nam. Việc sử dụng phương pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giám định mà còn bảo vệ sức khỏe cho người thực hiện.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp thử dấu vết máu bằng phenolphthalein đã mở ra hướng đi mới cho công tác giám định sinh học pháp lý tại Việt Nam. Với những ưu điểm vượt trội, phenolphthalein hứa hẹn sẽ trở thành phương pháp chính trong việc phát hiện dấu vết máu trong tương lai.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy phenolphthalein là một phương pháp an toàn, hiệu quả và có độ nhạy cao trong việc phát hiện dấu vết máu. Điều này mở ra cơ hội cho việc áp dụng rộng rãi trong giám định sinh học pháp lý.

5.2. Triển vọng phát triển phương pháp trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp thử dấu vết máu mới, đồng thời nâng cao kỹ thuật và trang thiết bị để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong công tác giám định sinh học pháp lý.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu phương pháp thử định hướng dấu vết máu bằng dung dịch phenolphthalein phục vụ công tác giám định sinh học pháp lý tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tài liệu - Chương 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả và thảo luận K17-Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học Đàm Thị Huệ Chƣơng 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về máu về dấu vết máu 1. Khái niệm về máu Máu là chất lỏng có màu đỏ chạy trong hệ thống mạch của người và động vật, có vai trò quan trọng nhiều mặt đối với sự sống của cơ thể. [7] Theo các nhà tổ chức học thì máu là mô liên kết đặc biệt mà chất căn bản ở thể lỏng.

Trong cơ thể do sức đẩy của tim, máu được lưu thông trong hệ tuần hoàn máu theo một chiều xác định. Trọng lượng riêng của máu từ 1,051 - 1,060, pH: 7,35 – 7,45, áp suất thẩm thấu từ 7,2 – 8,1. - Huyết tương (phần chất lỏng) Hồng cầu chiếm hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu. Đó là những tế bào có hình đĩa hai mặt lõm, đường kính 7-8 mm, bề dày phần ngoại vi 2-2,5 mm và phần trung tâm 1 mm, thể tích trung bình 90-95 mm3.

Hồng cầu không có nhân, thành phần chính của hồng cầu là hemoglobin (Hb), chiếm 34% trọng lượng (nồng độ 34 g/dl trong dịch bào tương). Hemoglobin đó là chromoprotein gồm hai thành phần là nhân haem và globin. Hemoglobin có thể gắn với carbon monoxide, nitric oxide v.v… khả năng liên kết với oxy của haemoglobin bị giảm khi có nhiều CO2 do vậy ở mô của cơ thể haemoglobin nhường oxy và vận chuyển CO2 vào phổi. Ngược lại ở phổi haemoglobin nhận oxy và nhả khí CO2.

[6] Haem là một sắc tố đỏ. Mỗi heme gồm một vòng porphyrin và một Fe2+ chính giữa. Một phân tử hemoglobin có bốn nhân haem, chiếm 5%. Haem là vòng porphyrin có nguyên tử Fe2+ở giữa.

Haem được tạo thành bao gồm nhân protoporphynin IX gắn với một nguyên tử sắt hóa trị 2 (Fe2+), bởi bốn liên kết K17-Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học Đàm Thị Huệ giữa Fe2+ với 4 nitơ (N) của 4 vòng pyrol (2 liên kết cộnghóa trị và 2 liên kết phối trí 4). Sắt hóa trị 2 của haemfero có 6 hóa trị phối trị, hóa trị phối trị thứ 6 phục vụ cho việc gắn thuận nghịch với phân tử ôxy.Trong môi trường axit Hem phản ứng với NaCl tạo clorua Hem gọi là Hemin. Hemin hay Clohydrat hematin là một tinh thể hình lăng trụ màu đỏ gọi là tinh thể Teichman. Đây là một phản ứng đặc trưng để tìm dấu vết máu trong giám định sinh học pháp lý.[6] Bạch cầu là những tế bào hoàn chỉnh về thành phần cấu tạo, nhưng là tập hợp các tế bào không thuần nhất.

Dưới kính hiển vi quang học, căn cứ vào sự có hay không có các hạt trong bào tương bạch cầu, người ta phân biệt thành bạch cầu có hạt và bạch cầu không hạt. Dựa vào hình dáng nhân, người ta chia thành loại bạch cầu đa nhân và đơn nhân. Số lượng bạch cầu trong 1mm3 máu là 6000 – 9000 bạch cầu. Bạch cầu tham gia vào quá trình miễn dịch của cơ thể, là loại tế bào có nhân nên trong giám định ADN từ dấu vết máu thực chất chủ yếu là xác định ADN trong tế bào bạch cầu.[6] Tiểu cầu là những tế bào nhỏ nhất ở máu ngoại vi, là thành phần có kích thước nhỏ nhất, hình tròn hoặc hơi bầu dục, phần ngoài màu hồng, hẹp phần giữa có nhiều hạt.

Chức năng chính của tiểu cầu là tham gia vào quá trình đông máu và trong quá trình này chúng liên kết lại với nhau tạo thành những cục máu. Huyết tương (chiếm 55% thể tích máu) là dung dịch chứa đến 96% nước, 4% là các protein huyết tương và rất nhiều chất khác với một lượng nhỏ, đôi khi chỉ ở dạng vết. Các thành phần chính của huyết tương gồm: Albumin , các yếu tố đông máu, các globulin miễn dịch (immunoglobulin) hay kháng thể (antibody), các hormone, các protein khác, các chất điện giải (chủ yếu là Natri và Clo, ngoài ra còn cócan xi, kali, phosphate và các chất thải khác của cơ thể). K17-Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học Đàm Thị Huệ Khi ra khỏi hệ tuần hoàn, máu bị đông lại, chất fibrinogen, một protein ở dạng hòa tan trong huyết tương, biến thành lưới sợi fibrin không hòa tan bao lấy tế bào máu, tạo thành cục máu đông.

Khối này dần dần co lại tiết ra chất lỏng màu vàng nhạt, đó là huyết thanh. Máu chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ thể người và động vật bởi nhiều chức năng khác nhau: điều hòa hoạt động tuần hoàn, duy trì huyết áp, cung cấp oxy, đào thải CO2, bảo vệ cơ thể … và là một loại dấu vết hình sự quan trọng trong giám định sinh học pháp lý. Dấu vết máu Dấu vết máu là dấu vết được hình thành ngoài hệ thống tuần hoàn của cơ thể người và động vật, có ý nghĩa hình sự cần được thu, bảo quản và giám định theo qui định của pháp luật.Theo khái niệm này thì không phải tất cả các dấu vết máu khi được phát hiện đều có giá trị như nhau trong giải quyết các vụ việc mang tính hình sự. Ví dụ có những dấu vết tồn tại trước đó mà không liên quan gì đến vụ việc cần xem xét.

Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể thu những dấu vết này trong khi khám nghiệm hiện trường hoặc trong quá trình truy xét, và phải qua quá trình giám định mới khẳng định được có hay không có liên quan tới vụ việc nhất định.[5] Phần lớn dấu vết máu xuất hiện do tác động của ngoại lực làm rách phần mềm cơ thể sống của người, động vật hoặc do tổn thương ở xoang mũi, miệng, đôi khi còn do hiện tượng sinh lý tự nhiên như kinh nguyệt, sinh đẻ. Tuy nhiên các dấu vết này phải có liên quan đến các vụ việc có ý nghĩa hình sự cần phải thu lượm, đánh giá và giám định. Các tác động để gây ra dấu vết máu có thể bằng nhiều cách khác nhau như: các vật sắc nhọn (dao, kiếm.), gậy gộc, gạch đá, đạn bắn, tai nạn giao thông. thậm chí cắn, cào cấu.

Vì vậy mà dấu vết máu tồn tại rất đa dạng, chúng phụ thuộc vào mức độ tổn thương, vị trí vết thương, lượng máu chảy K17-Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học Đàm Thị Huệ ra, đặc điểm vật mang dấu vết và các yếu tố môi trường. Do đó để phát hiện dấu vết máu hiệu quả, cần căn cứ vào tình tiết vụ án để nhận định có hay không có dấu vết máu được để lại, căn cứ vào tình trạng thương tích của nạn nhân để xem xét khả năng dấu vết để lại nhiều hay ít, căn cứ vào loại hung khí nào gây tổn thương để tìm ra hung khí cho sát thực. Một số trường hợp thủ phạm sau khi gây án thường tẩy xóa dấu vết, thậm chí tạo dấu vết giả, do đó cần phải khám nghiệm tỉ mỉ, phân tích, đánh giá tổng thể và khách quan cũng như phối hợp với các biện pháp kỹ thuật khác để tránh những sai sót hoặc thu nhầm, thu thiếu dấu vết. Thực tế dấu vết máu tồn tại rất đa dạng, đòi hỏi cán bộ khám nghiệm hiện trường phải có những kiến thức và kinh nghiệm nhất định.

Trước khi tiến hành khám nghiệm phải đánh giá tổng quan, sau đó xem xét tỉ mỉ từng dấu vết để nhận định dấu vết này có liên quan đến vụ án đang khám nghiệm, điều tra hay không? Trên cơ sở đó mới tiến hành thu dấu vết để giám định. Ngoài ra trong quá trình khám nghiệm phát hiện dấu vết máu cần có các trang thiết bị hỗ trợ cùng một số loại thuốc thử để xác định định hướng dấu vết máu. Ý nghĩa của giám định dấu vết máu Giám định dấu vết máu trong điều tra hình sự để truy tìm thủ phạm đã được ứng dụng từ những năm đầu của thế kỷ XX (Uhlenhuth 1900 - 1901) bằng việc phân biệt giữa máu người và máu động vật trong các vụ án giết người. Sau đó với việc phát hiện hệ nhóm máu ABO và các hệ thống nhóm máu khác thì việc sử dụng dấu vết máu để phục vụ cho công tác điều tra ngày càng được mở rộng.

[5] Dấu vết máu là lượng máu được tìm thấy ở hiện trường, trên công cụ, phương tiện gây án, trên quần, áo, đồ dùng, thân thể của nạn nhân hay của thủ phạm… Sự xuất hiện của dấu vết máu là hậu quả của các hành vi đã xảy ra trong vụ việc có tính hình sự, được thu và giám định theo qui định của pháp K17-Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học Đàm Thị Huệ luật. Mỗi thành phần có trong huyết thanh và tế bào máu đều có vị trí quan trọng, chứa đựng các thông tin cần thiết về cá thể người để lại dấu vết máu nên rất có giá trị phục vụ cho việc giám định, có thể truy nguyên cá thể thông qua giám định dấu vết máu. [2] Qua thống kê, dấu vết máu chiếm tới 60% trong tổng số các loại dấu vết sinh vật hình thành và tồn tại liên quan đến vụ việc hình sự cần điều tra khám phá. Máu thuộc loại mô lỏng lưu thông trong hệ thống tuần hoàn của người và động vật.

Ở giới động vật, trong thành phần cấu cạo của hemglobin trong máu có ion sắt hóa trị 2 (Fe++) nên máu bao giờ cũng có màu đỏ. Trong cơ thể người, máu chiếm 8% trọng lượng cơ thể.[4] Phương pháp cơ bản để tìm dấu vết máu tại hiện trường cũng như khi giám định các đồ vật nghi dính máu là quan sát trong điều kiện chiếu sáng tốt, có thể sử dụng công cụ hỗ trợ như kính lúp đèn chiếu xiên hoặc kít định hướng để tìm các dấu vết máu, đặc biệt dấu vết máu đã bị chùi, xóa. Ngoài ra cần có một số loại thuốc thử để xác định định hướng dấu vết máu giúp cho quá trình phát hiện, đánh giá dấu vết được thuận lợi. Dấu vết máu có màu khá đặc trưng nên dễ phát hiện khi khám nghiệm hiện trường cũng như khi giám định các đồ vật nghi dính máu, nhưng đây cũng là loại dấu vết rất dễ bị biến đổi khi tồn tại ở môi trường ngoài cơ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ