Đặt vấn đề Hiện nay, xu hướng trở về với lối sống thuần tự nhiên kết hợp giữa việc sử dụng các loại thao được trong việc cải thiện sức khỏe cũng ngày càng được chú trọng và phổ biến vì những lợi ích to lớn mà nó mang lại. Thảo dược hiện tại không chỉ là nguồn cung cấp nguyên liệu cho khối ngành y dược mà còn được ứng dụng trong các lĩnh vực khác như sản xuất mỹ phẩm, thực phẩm chức năng. Song song với đó, việc sản xuất ra các sản phẩm thiết yếu với tiêu chí xanh, sạch, hoàn toàn từ thiên nhiên là xu hướng hiện nay hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn điện. Một ví dụ điển hình là cây dâu tằm, trước đây chi được dùng dé nuôi tằm, nhưng ít người biết rằng trong lá dâu còn chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao có tác dụng làm thuốc và hỗ trợ điều trị bệnh.
Theo Chan và cộng tác viên (2016) đã xác định được các hợp chất phenolic và flavonoid trong lá dâu tằm có tác dụng hạ huyết áp, chống béo phì, chống oxy hóa, đặc biệt là hợp chất 1- deoxynojirimycin (DNJ) có khả năng ức chế sự hấp thụ đường từ dạ dày vào máu, giúp kiểm soát lượng đường huyết và giảm nguy co mắc bệnh tiểu đường. Trên thé giới đã có các sản phẩm có nguồn gốc từ lá dâu tam, tuy nhiên ở Việt Nam lại chưa phô biến. Diện tích trồng dâu ở Việt Nam khá lớn đạt khoảng 10 nghìn ha theo thong kê của Bộ nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2023), điều này cho thấy nguồn nguyên liệu rất đồi dào tuy nhiên vẫn chưa được khai thác hết tiềm năng. Từ thực tế đó kết hợp với mục đích tạo ra dạng thức uống nhanh chóng, tiện lợi, hỗ trợ cải thiện sức khỏe với nguyên liệu chính là lá dâu tằm kết hợp cùng các loại thảo được khác, đề tài “Phat triển sản phẩm trà túi lọc lá dâu tằm” đã được thực hiện.
Sản phẩm từ đề tài không chỉ tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có dé góp phan tăng thu nhập cho người dân mà còn giúp đa dạng hóa các sản phâm từ lá dâu tắm, nâng cao vị thê của nông nghiệp Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Tạo ra sản phẩm trà túi lọc lá dau tam dam bảo theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 7975 - 2008.3 Nội dung thực hiện Nội dung |: Khao sát các thành phần hóa thực vật của lá dâu tam. Nội dung 2: Khảo sát quy trình làm trà túi lọc lá dâu tằm Nội dung 3: Đánh giá chất lượng trà. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Tổng quan về dâu tằm Cây dâu tằm (Morus alba L.) còn được gọi là dau cang, tằm tang. được trồng phố biến ở Lâm Đồng, Nghệ An va Bắc Ninh. Ngoài công dụng làm thức ăn cho tằm, tat ca các bộ phận từ lá đến quả đều có thé được tận dụng dé làm thảo dược hỗ trợ trị sốt, ho và tăng huyết áp (Chan và ctv, 2016). Theo Nguyễn Văn Long (2005) cây dâu tằm được phân loại như sau: Ngành: Spermatophyta Lớp: Angiospermae Bộ: Urticales Tén khoa hoc: Morus alba L.
Cây dâu tằm (Nguồn: Raibenefit, 2023). Theo Dược Điền Việt Nam V, dâu tằm thuộc loài cây thân gỗ nhỏ, có chiều cao trung bình khoảng 3 m. Lá mọc so le và có hình bầu dục, hình trứng nhộng hoặc hình tim, mềm, đài 5 - 10 em và rộng 4 - 8 em. Lá có nhiều gân lớn chạy dọc cuống, mép lá có hình răng cưa.
Hoa đơn tính, có thể cùng hoặc khác gốc. Cum hoa đực dài 1,5 - 2 cm, có lông thưa, hoa cái có 4 lá đài. Quả dâu tăm khi sông có màu trăng xanh và chín có màu đỏ hông hoặc 3 đen. Cây mọc nhiều ở các vùng miền trên cả nước như Lâm Đồng, Hà Tây, Nghệ An, Bắc Ninh.
và mùa hoa vào tháng 4 đến tháng 5, mùa quả từ tháng 5 đến tháng 7. Trong Y học cô truyền, lá dâu có tính mát, có tác dụng bồ âm, giải cảm, thanh nhiệt, mat gan, chữa tri đau nhức, chảy nước mắt. Lá dâu có thé sử dụng nau nước dé uống vừa dé rửa ngoai da. Ngoài ra, lá dâu còn dùng dé chữa mat ngủ, phát ban, đau mat đỏ.
Dưới đây là những tác dụng của cây thuốc này dựa theo kinh nghiệm dân gian ở nước ta ghi lại trong cuốn sách “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” ( Đỗ Tất Lợi, 2013). Tống quan về thành phan hóa thực vật của lá dâu tằm Lá dau tằm có chứa các alkaloid iminosugar có tác dung ức chế enzyme glucosidase ở động vật có vú. Hợp chất chiếm ưu thế nhất là 1-deoxynojirimycin với hàm lượng là 1,389-3,483 mg/g (Song và ctv, 2009) trong lá dâu khô có tác dụng hạ đường huyết. Tổng hàm lượng polyphenol và flavonoid lần lượt là 14,22 mg/g và 2,76 mg/g.
Ngoài ra, trong lá dâu tằm còn chứa thành phần khoáng chất như: Phot pho (P) là 2,35 mg/g, Kali (K) là 11,41 mg/g, Canxi (Ca) là 1,39 mg/g, Magie (Mg) là 1,09 mg/g (Ercisli va ctv, 2007). Tổng quan các hợp chất trong lá dâu tằm 2. Polyphenol Polyphenol được đặc trưng bởi sự hiện diện của it nhất hai nhóm phenolic liên kết trong các cấu trúc, thường có khối lượng phân tử cao, các phenolic đơn giản (còn gọi là acid phenolic) là tiền chất của polyphenol (Quideau và ctv, 2011). Theo Mongkolsilp (2004), polyphenol có nhiều lợi ích cho sức khỏe vì khả năng chống oxy hóa cao thông qua hạn chế sự hình thành các gốc tự do, tăng cường sức đề kháng, hạn chế sự phát triển của các tế bảo ung thư; chống các tia phóng xạ.
Ngoài ra, đặc tính sinh học quan trọng của polyphenol là các hoạt động chống viêm, chống ung thư và chống vi khuẩn (Pandey và ctv, 2009). Saponin Saponin là glycoside tự nhiên của steroid hoặc triterpene được liên kết với một hoặc nhiều gốc polysaccharide có nhiều hoạt tính sinh học và dược lý khác nhau (Han và ctv, 2000). Saponin có một số tính chất đặc biệt như làm giảm sức căng bé mặt, có thể tạo phức với cholesterol hoặc với chất 3-B-hydroxysteroid khác. Saponin được nghiên cứu về các đặc tính hạ đường huyết với mục đích tìm ra các loại thuốc hiệu quả trong điều trị đái tháo đường.
Ngoài ra, saponin còn là hợp chất có khả năng tạo bọt 6n định giống như xà phòng trong nước (Francis và ctv, 2002). Flavonoid Flavonoid là một nhóm hợp chất lớn thường gặp trong thực vật. Tác dụng có lợi của flavonoid đối với sức khỏe con người chủ yếu nằm trong hoạt động chống oxy hóa mạnh (Miller, 1996). Theo Phan Quốc Kinh (2011), các chất flavonoid là những chất oxy hóa chậm hay ngăn chặn quá trình oxy hóa do các gốc tự do (có thé là nguyên nhân làm cho tế bào hoạt động khác thường).
Các gốc tự do sinh ra trong quá trình trao đối chất thường là các gốc tự do như OH», ROO» (là các yếu tô gây biến dị, huỷ hoại tế bào, ung thư, tăng nhanh sự lão hoá,. Flavonoid được chứng minh có hoạt tính kháng virus cúm (Rakers và cộng sự, 2014) va virus viêm gan C (Shibata va ctv, 2014). Ngoài ra, flavonoid còn thê hiện tính gây độc tế bào cụ thê đối với tế bào ung thư, có tiềm năng làm các chất kìm hãm loại tế bào này (Zhang và ctv, 2014). Tannin Tannin (thường được gọi là acid tannic) là các polyphenol tan trong nước có trong nhiều loại thực phẩm thực vật.
Theo Chung (1998), tannin tăng tốc độ đông máu, giảm huyết áp, giảm mức lipid huyết thanh, tạo hoại tử gan và điều chỉnh các phản ứng miễn dịch. Ngoài ra, tannin có các tác dụng phụ như có thé gây ung thư, hoạt động kháng dinh dưỡng, và các tác dụng phụ khác nên không khuyến khích ăn một lượng lớn tannin. Tuy nhiên, việc hap thụ một lượng nhỏ tannin đúng loại có thé có lợi cho sức khỏe con người bằng cách ảnh hướng đến enzyme trao đôi chất, điều hòa miễn dịch, hoặc các chức năng khác. Tổng quan về 1-deoxynojirimycin 1-deoxynojirimycin(2R,3R,4R,5S)-2-(hydroxymethyl piperidine-3,4,5-triol), là hoạt chất tự nhiên có trong dâu tằm bao gồm lá, thân, rễ và ấu trùng tằm, nhộng tằm.
1- DNI là một alkaloid piperidine có nhiều nhóm hydroxyl, lần đầu tiên được tim thấy 6 Streptomyces dưới dạng kháng sinh (Wang và ctv, 2020). Hoạt chất DNJ trong lá dâu tam là một chất ức chê mạnh hoạt động của enzyme a-glucosidase, ngăn can và ức chê sự phân giải tinh bột trong thực phâm thành đường đơn là glucoza và fructoza. Do đó, 1- DNJ có khả năng hỗ trợ ngăn can quá trình tao glucose tại thành ruột và gan, từ đó làm giảm lượng glucose di vào máu, ức chế sự tăng lên của đường máu ngay sau khi ăn (Kuriyama và ctv, 2008). Ngoài ra, trong nghiên cứu của Wang và cộng tác viên (2020) đã chứng minh 1-DNJ còn có chức nang giúp chống béo phì và chống virus.
Tổng quan về enzyme ơ-amylase Enzyme a-amylase có thé được tìm thấy trong vi sinh vật, thực vật và sinh vat bac cao, xúc tác quá trình thủy phân các liên kết o-1,4-glycosid bên trong tinh bột thành glucose va maltose. Các chất ức chế bất hoạt a-amylase bằng cách hình thành phức hợp cân bằng hóa học chặt chẽ 1:1 với enzyme này, ngăn chặn trực tiếp các trung tâm hoạt động của một số vị trí trên enzyme (Francoise, 2004). Khả năng ức chế enzyme a-amylase phụ thuộc vào số lượng và vị trí của các nhóm thé hydroxyl trong phân tử và tỷ lệ thuận với số lượng nhóm thế hydroxyl trên vòng B. Các nhóm hydroxyl có thể hình thành liên kết hydro với các nhóm -OH trong cấu trúc của các amino acid chức năng của enzyme gây cản trở phản ứng giữa enzyme o-amylase và tinh bột, từ đó ức chế quá trình thủy phân (Võ Thanh Quang, 2013).
Téng quan vé tra tui loc Trà có nguồn gốc từ Trung Quốc va được sử dung lam thức uống từ 2500 năm trước công nguyên, sau đó được truyền bá đến Nhật và một số nước Châu Á khác. Trà túi lọc bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên ở nước Anh vào đầu thế kỷ 20 do Thomas Sullivan sáng tạo ra. Cấu tạo của trà túi lọc bao gồm túi lọc thường được làm từ giấy lọc, vật liệu lưới nhẹ hoặc một số vật liệu khác có khả năng chịu nhiệt, có thể có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông dùng dé chứa trà hoặc các loại thảo dược. Trà túi lọc thường được thiết kế dé sử dụng chỉ cần đặt túi trà vào 4m hoặc cốc, thêm nước nóng và chờ cho trà hấp thụ hương vị vào nước.
Với ưu điểm thuận tiện, nhanh chóng trà túi lọc thích hợp cho những người có cuộc sống bận rộn hoặc không có nhiều thời gian dé pha trà truyền thống từ lá trà.