Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2) Chương 2. Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 3) Chương 3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 4) Chương 4.
Kết quả và thảo luận Ngoài ra, còn có hệ thống các bảng kê, tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng Anh, các phụ lục. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tiếp cận đánh giá mức độ thích ứng vùng trồng rừng 1. Trên thế giới Ngay từ thế kỷ XIX trên thế giới đã có những nghiên cứu về sinh trưởng, nghiên cứu điều kiện lập địa đến khả năng cho năng suất cao của các loài cây rừng khác nhau.
Các nghiên cứu tập trung theo 2 hướng cơ bản: - Tìm các chỉ tiêu tương thích cho mối quan hệ giữa tự nhiên - sinh vật học. - Tìm các chỉ tiêu tương thích của kinh tế - xã hội tới cây trồng. Theo hướng thứ nhất các nhà khoa học đã nghiên cứu theo 2 trường phái: + Tìm cây phù hợp với điều kiện lập địa. + Chọn điều kiện lập địa phù hợp với cây trồng.
Trường phái thứ nhất, lấy biểu hiện của rừng trồng mà các chỉ tiêu quan trọng là sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh, chống chịu thời tiết, sản lượng hoa quả, tái sinh, thay đổi độ phì của đất, năng suất qua các chu kỳ kinh doanh để đánh giá điều kiện lập địa. Theo hướng này các nhà nghiên cứu đã phân chia cấp đất cho từng điều kiện lập địa cụ thể. Hướng nghiên cứu này phát triển mạnh ở Châu Âu và Châu Mỹ mà đại diện là Đức, Đan Mạch, Mỹ. Điển hình là các tác giả Hardy (1936); Bead (1946); Richard (1948) nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc tính của đất và sinh trưởng của cây trồng.
Các nghiên cứu này cho rằng đối với vùng ôn đới thì độ chua của đất (pH), hàm lượng CaCO 3 và các chất Bazơ là những yếu tố quan trọng nhất. Nghiên cứu của Week (1970) về quan hệ của cây Tếch và một số yếu tố đất đã xây dựng được hàm R = 1/3 (P X S), trong đó R: sinh trưởng hàng năm, P: độ sâu tầng đất và S: độ no bazơ. Kết quả nghiên cứu thu được của trường phái này là đã phân chia được điều kiện lập địa từ tốt (cấp đất I, cấp đất II), trung bình (cấp đất III) đến xấu (cấp đất IV), số liệu của các nghiên cứu này là trung thực, có độ tin cậy cao, 4 chính vì thế mà một số tác giả đã khẳng định cấp đất thuyết minh sức sản xuất của rừng trong điều kiện nhất định. Tuy nhiên, trường phái này cũng thể hiện một số hạn chế là chỉ áp dụng ở nơi đã có rừng và không giải thích được cơ chế ảnh hưởng của điều kiện lập địa tới cây trồng.
Vì vậy, trường phái nghiên cứu trên chưa đưa ra được dự báo tốt trong quy hoạch phát triển rừng trồng, nhưng trường phái này đã mở ra cơ hội đánh giá những loài cây đã trồng phổ biến như keo lai. Trường phái thứ hai, dùng phương pháp so sánh mối quan hệ giữa tự nhiên và sinh vật tức là giữa nhu cầu sinh thái của loài với tiềm năng điều kiện lập địa qua các chỉ tiêu. Để thực hiện phương pháp này người ta tiến hành xác định biên độ sinh thái loài, sau đó điều tra đánh giá những chỉ tiêu tương ứng của điều kiện lập địa. Dựa vào mức độ trùng hợp hay sai lệch mà người ta chia giới hạn thích hợp của sinh vật với điều kiện lập địa thành các khoảng rất thích hợp (S1), thích hợp (S2), ít thích hợp (S3) và không thích hợp (N).
Một trong những nghiên cứu nổi bật là phân hạng đất phân chia điều kiện lập địa theo mức độ thích hợp, tiêu biểu là các nghiên cứu tại Bắc Mỹ, tổ chức FAO. Trường phái nghiên cứu thứ hai có ưu điểm là áp dụng được cho bất kỳ nơi nào chưa trồng rừng, phù hợp với việc quy hoạch, dự báo khả năng tiềm ẩn của điều kiện lập địa. Nhưng nó có những hạn chế là chưa được kiểm nghiệm thực tế, chưa đánh giá được nhân tố quan trọng nhất tác động tới loài cây trồng. Hướng thứ hai, các tác giả dùng ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội đến rừng trồng nhằm đánh giá mức độ thích ứng của vùng trồng rừng.
Các nghiên cứu theo hướng này tập trung đánh giá các chỉ tiêu như mục đích kinh doanh, vị trí vùng kinh tế sinh thái, yếu tố thị trường, nhu cầu sử dụng lâm sản, tập quán canh tác,. Hướng nghiên cứu này tập trung được sự chú ý của các nhà kinh tế học, lâm nghiệp xã hội, các nhà đầu tư. Như vậy, ngoài vấn đề đánh giá tương thích mối quan hệ giữa tự nhiên với sinh vật học còn cần có sự đánh giá tương thích về điều kiện kinh tế - xã hội mà hiệu quả tổng hợp là lựa chọn cuối 5 cùng đầy đủ nhất. Sự thật kinh doanh rừng luôn chứa đựng tất cả các yếu tố về tự nhiên, sinh vật, kinh tế, xã hội và không thể bỏ qua yếu tố nào.
Ngoài ra còn một số nghiên cứu theo các hướng khác như nghiên cứu của Hill (1960) ở Canada, nghiên cứu của Shwaneker phân chia điều kiện lập địa tại Việt Nam. Hướng này chỉ phân chia điều kiện lập địa dựa vào một vài tiêu chí về đất mà không cần quan tâm đến những yếu tố thời tiết, vị trí địa lý. Do vậy, nó chỉ dừng lại ở mức phân chia điều kiện lập địa theo khả năng tiềm ẩn. Ở Việt Nam Ở nước ta trong những năm vừa qua thì rừng trồng nguyên liệu ngày được quan tâm nhiều hơn.
Bên cạnh những cây bản địa được gây trồng thành công như mỡ, tre luồng, thông… thì một số cây có sinh trưởng nhanh như keo, bạch đàn từ nhiều xuất xứ được du nhập vào Việt Nam và trở thành cây mũi nhọn giải quyết vấn đề năng suất cây trồng nguyên liệu. Nghiên cứu về vấn đề đánh giá mức độ thích hợp của vùng trồng rừng các nhà khoa học đã sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá. Hướng tập trung chủ yếu là đánh giá các chỉ tiêu về đất, kinh tế xã hội mà các biểu hiện của nó là sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh hại, phẩm chất của cây, sản lượng hoa quả, khả năng tái sinh, làm thay đổi độ phì của đất… Nghiên cứu về sinh trưởng các nhà khoa học đã phân chia cấp đất cho một số loài cây như; Hoàng Kim Ngũ và Phạm Văn Điển phân chia cấp đất cho cây Giổi xanh, Hà Quang Khải làm cho cây luồng, Đỗ Đình Sâm làm cho cây Bồ đề… Nghiên cứu thay đổi của đất có các tác giả Nguyễn Ngọc Bình (1970) đã đánh giá độ phì của đất biến động lớn ứng với mỗi thảm thực vật. Hoàng Xuân Tý (1976) nghiên cứu thay đổi của đất trồng bạch đàn trên đồi trọc cho thấy sau 10 năm các tính chất hoá học cơ bản chưa có sự thay đổi nhiều.
Ngô Đình Quế (1985) nghiên cứu đất trồng thông nhựa cho thấy sau 8 - 10 năm trồng thông nhựa tính chất đất có thay đổi nhưng không nhiều. Hoàng Xuân Tý (1988) nghiên cứu đất trồng rừng bồ đề ở 4 hạng đất cho kết quả sự suy giảm lượng mùn ở cả 4 hạng đất khi phá rừng tự nhiên để 6 trồng bồ đề. Đỗ Đình Sâm (2001) nghiên cứu dạng lập địa và áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh vào trồng rừng nguyên liệu tại vùng trung tâm, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Tác giả dựa vào độ dốc, thực bì và độ sâu tầng đất để phân dạng điều kiện lập địa cho trồng rừng keo tai tượng ở vùng trung tâm thành 5 dạng có sinh trưởng đạt từ 5,7 m3/ha/năm đến 25,7 m3/ha/năm.
Các nghiên cứu về Keo lai 1. Trên thế giới Các loài keo thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae), thuộc ba chi phụ Acacia, Aculeiferum và Phyllodinae (Maslin and Mc Donald, 1996). Theo các tài liệu nghiên cứu thì trên thế giới có khoảng 1250 loài, phân bố tự nhiên tại một số vùng như châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương tuy nhiên chúng đặc biệt phát triển tốt ở Châu phi và Australia. Riêng tại Australia có khoảng 850 loài keo trong đó có hàng trăm loài có lá giả (Phyllode).
Lần đầu tiên giống lai giữa keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (Acacia auriculiformis) được Messir Herbern và Shim phát hiện vào năm 1972 trong số các cây keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah (Malaixia). Năm 1976, Tham cũng khẳng định đó là giống lai giữa 2 loài keo trên. Tháng 7 năm 1978 sau khi xem xét các mẫu tiêu bản được gửi tháng 1 năm 1977 tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia), Pegley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng và keo lá tràm. Keo lai cũng được phát hiện ở nhiều nơi khác như: Vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986; Gun và cộng sự, 1987; Griffin, 1988).
Về hình thái giải phẫu thực vật có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả: Pedley, L (1990), Verdcord, B (1979), Turnbull (1986), Gun at all (1987), Darus và Rasip (1989), Gan và Sim Boon Liang (1991). Cây con keo lai được Rufelds (1988), Gan, Sim Boom Linang (1991) nghiên cứu thấy rằng keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn keo tai tượng và muộn hơn keo lá tràm. Kết quả nghiên cứu của Bowen (1981) cho biết cây keo lai cũng thể hiện 7 trung tính giữa hai loài keo bố mẹ về hoa tự, hoa và hạt. Nó cũng có tính trung gian về peroxidase isozyme (Kiang Tao và cộng sự, 1988) và hình thái (Shukor, Abd Rashid, Itam, 1994).
Cây lai còn có các kiểu hình trung gian và gần với keo lá tràm (Sedley, Harbard và cộng sự, 1992). Về sinh trưởng, tăng trưởng và sản lượng có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Tanpibal và các cộng sự (1991), Ugalde, L. Nghiên cứu tại Sabah cho thấy cây Keo lai thể hiện sự sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng thuần loại, cây Keo lai cũng cho chất lượng gỗ sợi, gỗ dán lạng, bột giấy tốt hơn Keo tai tượng. Ngoài ra Keo lai cũng có sự tăng sức chống chịu với bệnh thối ruột gỗ trong khi đó Keo tai tượng lại thường bị rỗng ruột.
Cây lai có thể không có ưu thế về sinh trưởng (Rufelds, 1987) hoặc có ưu thế lai như cao hơn và to hơn các loài bố mẹ (Cyril Pinso và Robert Nasi, 1991). Cây lai có độ tròn thân, mức độ tỉa cành tốt hơn keo tai tượng, còn độ thẳng thân của cây lai tốt hơn keo lá tràm (Rufelds, 1987).