Tổng quan luận án
Nghiên cứu được trích xuất từ luận án tiến sĩ chuyên ngành Chăn nuôi (mã số 9 62 01 05) của nghiên cứu sinh Dương Thu Hương, thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Kim Đăng và PGS. Vũ Văn Hạnh, với đề tài: "Nghiên cứu phát triển chủng nấm sợi và tối ưu điều kiện lên men sản xuất đa enzyme (α-amylase, glucoamylase, cellulase) ứng dụng trong chế biến thức ăn chăn nuôi".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò trọng yếu trong nền kinh tế nhưng chịu áp lực lớn từ chi phí thức ăn chăn nuôi cao và biến động do phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Trong khi đó, nguồn phụ phẩm nông nghiệp và chế biến nông sản tại Việt Nam rất lớn; riêng ngành chế biến tinh bột sắn với khoảng 100 nhà máy quy mô lớn (sản xuất 1,8–2,0 triệu tấn tinh bột/ngày) thải ra khoảng 0,6 triệu tấn chất thải rắn mỗi ngày (Nguyễn Thị Hằng Nga & cs.). Lượng bã sắn tươi này nếu không xử lý kịp thời sẽ phân hủy sinh học sau 48 giờ, tạo ra các khí gây mùi và ô nhiễm môi trường như $H_2S$, $NH_3$, $CH_4$. Việc tận dụng bã sắn làm thức ăn chăn nuôi truyền thống gặp nhiều rào cản: hàm lượng nước cao, hàm lượng protein thô rất thấp (chỉ đạt 2–3% vật chất khô theo Nguyễn Xuân Trạch, 2003 hoặc 3,6% theo Nguyễn Hữu Văn & cs., 2008), hàm lượng xơ thô cao (15–20% vật chất khô) và chứa độc tố kháng dinh dưỡng hydrogen cyanide (HCN với mức 26,9 mg/kg tươi). Các biện pháp xử lý truyền thống như phơi khô (dễ nhiễm nấm mốc, giá trị dinh dưỡng thấp) hoặc ủ chua đơn thuần (protein sau ủ chỉ đạt 3,5–5,3% vật chất khô) chưa đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của gia súc. Do đó, việc ứng dụng công nghệ sinh học nhằm cải tiến chủng nấm sợi, sản xuất chế phẩm đa enzyme (phân giải tinh bột và cellulose) và lên men đồng thời cùng vi sinh vật có ích là giải pháp kỹ thuật cần thiết để nâng cao giá trị dinh dưỡng của bã sắn.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Nâng cao hiệu quả sử dụng phụ phẩm trồng trọt và chế biến nông sản bằng ứng dụng chế phẩm sinh học.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Chọn lọc được 1 dòng đột biến từ chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 có khả năng sinh đa enzyme (α-amylase, glucoamylase và cellulase) với hoạt tính cao.
- Mục tiêu 2: Tìm được điều kiện lên men xốp tối ưu cho sản xuất đa enzyme (α-amylase, glucoamylase và cellulase) của dòng đột biến chọn lọc.
- Mục tiêu 3: Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm đa enzyme (α-amylase, glucoamylase và cellulase) trong chế biến bã sắn làm thức ăn chăn nuôi lợn thịt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 (thu nhận từ bộ giống của Phòng Các chất chức năng Sinh học, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam); bã sắn tươi thu gom trực tiếp từ các cơ sở chế biến tinh bột tại xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Hà Nội; 144 lợn lai $F_1$ (Landrace $\times$ Yorkshire) gồm 72 lợn cái và 72 lợn đực thiến ở giai đoạn từ 20 kg đến xuất chuồng.
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng Các chất chức năng sinh học (Viện Công nghệ sinh học), Phòng Thí nghiệm trung tâm và Phòng Thí nghiệm bộ môn Di truyền giống (Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam), Trung tâm Giống lợn chất lượng cao (Học viện Nông nghiệp Việt Nam).
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống cơ sở lý luận về đặc tính sinh học, cơ chế xúc tác và nguồn thu nhận của hai nhóm enzyme chính là amylase và cellulase:
- Nhóm amylase: Phân giải liên kết glucoside của polysaccharide gồm α-amylase (metalloenzyme chứa từ 1 đến 30 nguyên tử Ca/mol, phân cắt ngẫu nhiên liên kết α-1,4 glucoside trong amylose và amylopectin), β-amylase (thủy phân tách maltose từ đầu không khử) và γ-amylase hay glucoamylase (EC 3.2.1.3, cắt liên kết α-1,4 và α-1,6 glucoside từ đầu không khử tạo sản phẩm cuối là glucose, hoạt động tối ưu ở pH 3–5) theo Singh & cs.
- Phức hệ cellulase: Phân giải liên kết β-1,4-glycosidic trong cellulose gồm Endoglucanase/CMCase (EC 3.2.1.4), Exoglucanase/Cellobiohydrolase (EC 3.2.1.91) và β-glucosidase (EC 3.2.1.21) theo Hameed & cs.
Về nguồn vi sinh vật và ứng dụng chủng Aspergillus niger, tác giả tổng hợp số liệu từ Schuster & cs., Nielsen & cs., Pariza & Johnson (2001), Sukumaran & cs., Devi & Kumar (2017), và Ikram-Ul-Haq & cs. A. niger có phổ nhiệt độ sinh trưởng 6–47°C (tối ưu 35–37°C), dải pH rộng 1,4–9,8, hoạt độ nước 0,88 và được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cùng FAO/WHO công nhận đạt chuẩn an toàn GRAS đối với các chế phẩm enzyme như α-amylase, cellulase, glucoamylase. Trong nước, các nghiên cứu ứng dụng enzyme từ A. niger được điểm lại qua công trình của Hoàng Kim Anh (2012), Đặng Minh Nhật & Bùi Viết Cường (2012), Dương Thị Hương & Nguyễn Hiền Trang (2018), Đỗ Thị Hiền & Huỳnh Phan Phương Trang (2019).
Về kỹ thuật cải tiến chủng và lên men sản xuất enzyme, luận án trích dẫn các tài liệu lý thuyết và thực nghiệm của Gonzalez & cs., Pathak & cs. (1999, 2015), Prabakaran & cs., Mishra & cs., Zhao & cs., Fawzi & Hamdy (2011), Svensson & Søgaard (1993), Ghani & cs. Tác nhân vật lý (tia UV bước sóng 254 nm tạo pyrimidine dimer) và hóa học (tác nhân alkyl hóa N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine - NTG gây chuyển dịch cặp base GC sang AT) được đánh giá là công cụ hữu hiệu để nâng cao năng suất sinh tổng hợp. Về phương thức lên men, tài liệu của Singhania & cs., Pandey & cs., Subramaniyam & cs., Zambare (2010) cho thấy lên men bề mặt rắn/lên men xốp (SSF) có ưu thế vượt trội về hiệu suất sinh enzyme trên đơn vị thể tích, tận dụng được cơ chất phế phụ phẩm nông nghiệp và giảm chi phí năng lượng so với lên men chìm (SmF).
Về ứng dụng enzyme và thức ăn lên men trong chăn nuôi, tác giả tổng hợp nghiên cứu của Chapman & cs. (2021), Kuhad & cs., Bhat (2000), Karmakar & Ray (2011), Shrivastava & cs., Graham & Balnavel (2008), Pazarlioğlu & cs., Krainer & cs., Wang & cs., Tamang & cs., Mukherjee & cs., Hill & cs., Kobashi & cs. (2015), Niba & cs., Missotten & cs. (2015), Jensen & Mikkelsen (2001), Pedersen & Stein (2010), Saleh & cs. (2007), Wu & cs. (2015), Heres & cs. Cùng với định hướng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2020), việc sử dụng thức ăn lên men giúp bổ sung lợi khuẩn, hạ pH đường tiêu hóa, giảm vi khuẩn gây bệnh ($E. coli$, Salmonella), tăng hiệu quả chuyển hóa thức ăn và cải thiện chất lượng thân thịt.
Về hiện trạng sử dụng bã sắn, tác giả phân tích các số liệu của FAOSTAT (2018), Carta & cs., Mai Thị Thơm & Bùi Quang Tuấn (2006), Nguyễn Hữu Văn & cs. (2008), Aro (2008), Trần Thị Thu Hồng & cs. (2013). Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc gây đột biến đơn lẻ thu nhận từng loại enzyme riêng biệt hoặc lên men bã sắn bằng các chủng vi sinh vật tự nhiên chưa qua tối ưu, khiến hàm lượng protein sau lên men tăng không đáng kể và chưa loại bỏ triệt để các yếu tố cản trở tiêu hóa. Luận án định vị nghiên cứu vào việc kết hợp đồng thời hai tác nhân đột biến (UV và NTG) trên chủng A. niger A45.1 để tạo ra dòng nấm sợi sinh đồng thời 3 loại enzyme (α-amylase, glucoamylase, cellulase) có hoạt tính cao, tối ưu hóa quy trình lên men xốp, và ứng dụng trực tiếp chế phẩm đa enzyme này vào công nghệ đường hóa kết hợp lên men lỏng bã sắn với hệ vi sinh vật probiotic để làm thức ăn cho lợn thịt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết sinh hóa về quá trình thủy phân polysaccharide bằng xúc tác enzyme; cơ chế biến dị di truyền nhân tạo dưới tác động phối hợp của bức xạ ion hóa/bước sóng ngắn (UV 254 nm) và tác nhân alkyl hóa (NTG); lý thuyết động học lên men vi sinh vật ở trạng thái rắn (SSF) và lỏng (SmF/LF); công nghệ đường hóa và lên men đồng thời (Simultaneous Saccharification and Fermentation - SSF); và các chỉ tiêu sinh lý - dinh dưỡng trong đánh giá năng suất, chất lượng thịt lợn theo tiêu chuẩn NRC và TCVN.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Phương pháp gây đột biến và tuyển chọn chủng nấm sợi:
- Nguồn giống gốc Aspergillus niger A45.1 được nuôi cấy trong môi trường PDB ở 28°C, lắc 200 vòng/phút trong 5 ngày để thu dịch bào tử ($10^7$ bào tử/ml).
- Dịch bào tử được xử lý bằng 500 µl dung dịch NTG (100 mg/ml trong đệm citrate 0,2 M, pH 5,0) kết hợp chiếu tia UV (đèn công suất 50 W, khoảng cách 30 cm) trong các khoảng thời gian 30, 60, 90, 120 và 180 phút.
- Mẫu sau xử lý được rửa 3 lần bằng nước muối sinh lý, cấy trải trên đĩa thạch PDA bổ sung ampicillin (100 mg/l), ủ ở 30°C trong 4–6 ngày để xác định tỷ lệ sống sót, kiểm tra đường kính vòng phân giải tinh bột và xơ (CMC), và chọn lọc các thể đột biến ưu tú qua nhiều thế hệ nuôi cấy.
- Phương pháp lên men xốp và tối ưu hóa điều kiện lên men:
- Quy trình lên men xốp: Nhân giống cấp 1 trên môi trường cám gạo dịch thể 10% (w/v) trong 3 ngày ở 30°C (lắc 200 vòng/phút). Cấy 10% giống cấp 1 vào cơ chất rắn, ủ ở nhiệt độ phòng. Chiết enzyme thô bằng cách trộn 1 g sản phẩm lên men với 9 ml nước cất vô trùng, lắc 200 vòng/phút ở 30°C trong 60 phút, ly tâm 4000 vòng/phút trong 10 phút để thu dịch nổi.
- Tối ưu hóa đơn biến các yếu tố: cơ chất (cám mì, cám gạo, vỏ trấu, mùn cưa); độ ẩm cơ chất (20, 30, 40, 50, 60, 70%); nhiệt độ lên men (20, 25, 30, 35, 40, 45°C); pH ban đầu của cơ chất (3,0; 3,5; 4,0; 4,5; 5,0; 5,5; 6,0; 6,5; 7,0); thời gian lên men (2 đến 8 ngày); tuổi giống (1 đến 4 ngày); nguồn carbon bổ sung 1% (glucose, maltose, tinh bột gạo, sucrose); nguồn nitơ bổ sung 1% (ure, cao nấm men, tryptone, peptone, $NH_4Cl$, $NH_4NO_3$).
- Phương pháp xác định hoạt tính enzyme:
- Sử dụng phương pháp Miller (1959) định lượng hàm lượng đường khử bằng thuốc thử axit 3,5-dinitrosalicylic (DNS), đo độ hấp thụ quang (OD) tại bước sóng 540 nm.
- Xây dựng đường chuẩn Glucose (nồng độ chuẩn 0,1% tương đương 5555,56 µM) để xác định hoạt tính cellulase (cơ chất CMC 1%) và glucoamylase (cơ chất hồ tinh bột 1%).
- Xây dựng đường chuẩn Maltose (nồng độ chuẩn 0,1% tương đương 2923,98 µM) để xác định hoạt tính α-amylase (cơ chất hồ tinh bột 1%).
- Đơn vị hoạt tính enzyme (U/g): Một đơn vị hoạt tính (U) là lượng enzyme cần thiết để giải phóng 1 µmol đường khử (glucose hoặc maltose) trong 1 phút ở điều kiện phản ứng (50°C, pH 5,0). Công thức tính:
$$\text{Hoạt tính enzyme (U/g)} = \frac{X \times k}{t}$$
(Trong đó: $X$ là hàm lượng đường khử giải phóng tính bằng µM; $k$ là hệ số pha loãng mẫu; $t$ là thời gian phản ứng tính bằng phút).
- Phương pháp chế biến bã sắn và thử nghiệm nuôi dưỡng lợn thịt:
- Đường hóa và lên men đồng thời bã sắn: Bã sắn tươi phối trộn nước đạt tỷ lệ 30% (w/v), bổ sung 8% chế phẩm enzyme thô, 0,5% chế phẩm probiotic chứa Saccharomyces cerevisiae, Lactobacillus sp. và Bacillus sp. (mật độ $10^7$ cfu/g mỗi loại), bổ sung nguồn đạm vô cơ $(NH_4)_2SO_4$ từ 0 đến 1,5%, tiến hành lên men trong 48 giờ. Phân tích thành phần hóa học, hàm lượng protein thô, protein thực, axit hữu cơ, độc tố HCN và aflatoxin $B_1$.
- Bố trí thí nghiệm động vật: Thí nghiệm tiến hành trên 144 lợn lai $F_1$ (Landrace $\times$ Yorkshire) gồm 72 cái và 72 đực thiến, chia thành các lô tương ứng với các mức thay thế bã sắn lên men (BSLM) trong khẩu phần từ giai đoạn 20 kg đến xuất chuồng. Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (ADG, FCR), năng suất thân thịt (tỷ lệ móc hàm, thịt xẻ, diện tích cơ thăn, độ dày mỡ lưng) và phẩm chất thịt (pH, màu sắc, tỷ lệ mất nước, thành phần hóa học).
- Xử lý số liệu: Dữ liệu được xử lý thống kê sinh học, so sánh giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất (LSM) và sai số tiêu chuẩn (SE).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày bối cảnh thực tiễn của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi lợn và ô nhiễm do chất thải chế biến tinh bột sắn tại Việt Nam. Xác định mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 đối tượng nghiên cứu chính (chủng nấm sợi, bã sắn, lợn $F_1$), phạm vi thời gian (2015–2019) và không gian nghiên cứu. Nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dữ liệu biến dị thực nghiệm và quy trình sinh học xử lý phụ phẩm, cùng ý nghĩa thực tiễn trong việc giảm giá thành thức ăn chăn nuôi.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về:
- Cơ chế tác dụng và cấu trúc hóa học của α-amylase, β-amylase, glucoamylase, phức hệ cellulase (Endoglucanase, Exoglucanase, β-glucosidase).
- Đặc điểm sinh học, tính an toàn sinh học (GRAS) và tiềm năng sản xuất enzyme công nghiệp của loài nấm sợi Aspergillus niger.
- Các phương pháp gây đột biến phát triển chủng (vật lý, hóa học) và kỹ thuật lên men xốp (SSF) so sánh với lên men chìm (SmF).
- Tình hình nghiên cứu sử dụng enzyme, thức ăn lên men lỏng/xốp trên gia súc, gia cầm và hiện trạng các phương pháp chế biến bã sắn (phơi khô, ủ chua, lên men vi sinh).
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết 3 nội dung nghiên cứu chính cùng toàn bộ quy trình thực nghiệm:
- Hóa chất, môi trường dinh dưỡng (PDA, PDB, môi trường cám gạo dịch thể, môi trường xốp) và trang thiết bị nghiên cứu.
- Quy trình gây đột biến đồng thời bằng NTG và bức xạ UV trên chủng A. niger A45.1.
- Quy trình lên men xốp thu enzyme thô và phương pháp định lượng đường khử DNS xác định hoạt tính α-amylase, glucoamylase, cellulase.
- Thiết kế thí nghiệm tối ưu hóa đơn biến 8 thông số môi trường lên men xốp.
- Quy trình công nghệ đường hóa và lên men đồng thời bã sắn tươi ở quy mô phòng thí nghiệm.
- Thiết kế sơ đồ thí nghiệm nuôi dưỡng trên 144 lợn lai $F_1$ (Landrace $\times$ Yorkshire) và các phương pháp phân tích mẫu thịt, phân tích thống kê.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Nội dung kết quả được trình bày qua 3 hợp phần chính:
1. Gây đột biến chủng Aspergillus niger A45.1 và tối ưu hóa điều kiện lên men xốp
Quá trình xử lý dịch bào tử bằng NTG kết hợp chiếu xạ UV làm tỷ lệ sống sót của bào tử giảm dần theo thời gian chiếu (từ 30 đến 180 phút). Đã phân lập và sàng lọc được chủng đột biến ký hiệu Aspergillus niger GA15. Chủng GA15 thể hiện hoạt tính sinh enzyme vượt trội và duy trì tính ổn định di truyền qua các thế hệ nuôi cấy liên tiếp.
Hoạt tính enzyme của chủng đột biến GA15 so với chủng hoang dại A45.1:
| Chủng nấm sợi |
Hoạt tính α-amylase (U/g) |
Hoạt tính Glucoamylase (U/g) |
Hoạt tính Cellulase (U/g) |
| A. niger A45.1 (Hoang dại) |
Mức cơ sở (1,00x) |
Mức cơ sở (1,00x) |
Mức cơ sở (1,00x) |
| A. niger GA15 (Đột biến) |
Tăng gấp 1,97 lần |
Tăng gấp 2,20 lần |
Tăng gấp 1,90 lần |
Kết quả tối ưu hóa đơn biến các điều kiện lên men xốp cho chủng A. niger GA15 xác định được bộ thông số thích hợp:
- Cơ chất: Cám mì (cho hoạt tính cao hơn cám gạo, vỏ trấu, mùn cưa).
- Độ ẩm cơ chất: 50%.
- Nhiệt độ lên men: 30°C.
- pH ban đầu của môi trường: 5,5.
- Thời gian lên men: 5 ngày.
- Tuổi giống cấy: 2 ngày tuổi.
- Nguồn carbon bổ sung: Glucose 1%.
- Nguồn nitơ bổ sung: Ure 1%.
Khi nuôi cấy trong điều kiện tối ưu, hoạt tính α-amylase đạt 76,75 U/g (tăng 2,0 lần), glucoamylase đạt 50,00 U/g (tăng 1,9 lần) và cellulase đạt 40,11 U/g (tăng 3,3 lần) so với điều kiện chưa tối ưu.
2. Xử lý bã sắn bằng công nghệ đường hóa và lên men đồng thời
Bã sắn tươi ban đầu có độ ẩm cao, protein thô thấp, xơ cao và chứa độc tố HCN. Sau khi phối trộn cơ chất 30%, bổ sung 8% chế phẩm đa enzyme thô, 0,5% probiotic (S. cerevisiae, Lactobacillus sp., Bacillus sp. mật độ $10^7$ cfu/g mỗi loại), 1% $(NH_4)_2SO_4$ và lên men lỏng trong 48 giờ, chất lượng dinh dưỡng của bã sắn biến đổi rõ rệt:
| Chỉ tiêu dinh dưỡng / cảm quan |
Bã sắn tươi (Không lên men) |
Bã sắn sau đường hóa và lên men (BSLM) |
| Hàm lượng Protein thô |
Mức cơ sở (1,0x) |
Tăng gấp 7,3 lần |
| Hàm lượng Protein thực |
Mức cơ sở (1,0x) |
Tăng gấp 5,5 lần |
| Hàm lượng Axit hữu cơ |
Mức cơ sở (1,0x) |
Tăng gấp 5,9 lần |
| Độ pH |
4,21 |
3,70 |
| Hàm lượng độc tố HCN |
26,9 mg/kg tươi |
Giảm còn 1,4 g/kg |
| Độc tố Aflatoxin $B_1$ |
— |
Không phát hiện |
| Trạng thái cảm quan |
Trắng đục, dễ thối |
Màu vàng tương đỗ, mùi thơm, chua dịu |
3. Ảnh hưởng của bã sắn lên men (BSLM) đến năng suất và chất lượng thịt lợn $F_1$ (Landrace $\times$ Yorkshire)
Thử nghiệm trên 144 lợn thịt $F_1$ từ 20 kg đến khi xuất chuồng cho thấy:
- Khả năng sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn: Khẩu phần bổ sung 20% BSLM đạt hiệu quả tối ưu nhất. Tăng trọng bình quân hàng ngày (ADG) tăng 8,97% ở giai đoạn 1 và tăng 34,46% ở giai đoạn 2 so với lô đối chứng (0% BSLM). Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) ở hai giai đoạn tương ứng đạt 2,10 và 2,45.
- Năng suất thân thịt: Khối lượng móc hàm tăng 11,15% và khối lượng thịt xẻ tăng 11,19% so với lô đối chứng.
- Phẩm chất thịt: Việc sử dụng BSLM ở các mức thí nghiệm không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các chỉ tiêu chất lượng thịt (pH, màu sắc, tỷ lệ mất nước bảo quản/chế biến) và thành phần hóa học của thịt lợn.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các kết quả đạt được về chủng đột biến, điều kiện lên men, quy trình xử lý bã sắn và hiệu quả chăn nuôi; đồng thời đưa ra các kiến nghị nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Đã ứng dụng thành công phương pháp gây đột biến ngẫu nhiên kết hợp đồng thời giữa tác nhân hóa học (NTG) và tác nhân vật lý (tia UV) trên chủng nấm sợi hoang dại Aspergillus niger A45.1 để chọn tạo được chủng đột biến Aspergillus niger GA15 có khả năng đồng thời sinh tổng hợp 3 loại enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase với hoạt tính cao, ổn định qua nhiều thế hệ nuôi cấy.
- Xác lập được bộ thông số môi trường tối ưu cho quá trình lên men xốp (SSF) của chủng đột biến Aspergillus niger GA15 trên cơ chất cám mì kết hợp phụ gia (glucose 1%, ure 1%, độ ẩm 50%, pH 5,5, nhiệt độ 30°C, thời gian 5 ngày, tuổi giống 2 ngày).
- Xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về công nghệ đường hóa và lên men đồng thời bã sắn tươi bằng phức hệ đa enzyme kết hợp hệ vi sinh vật probiotic và đạm vô cơ, giải quyết bài toán suy giảm độc tố HCN và nâng cao tỷ lệ protein thực trong phụ phẩm giàu tinh bột - cellulose.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Tạo ra nguồn chế phẩm đa enzyme thô phục vụ chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ với chi phí thấp.
- Hoàn thiện quy trình biến đổi bã sắn tươi từ nguồn chất thải công nghiệp gây ô nhiễm thành thức ăn chăn nuôi lợn giàu dinh dưỡng, an toàn sinh học.
- Chứng minh việc bổ sung 20% bã sắn lên men vào khẩu phần ăn giúp tăng tốc độ sinh trưởng (ADG tăng tới 34,46% ở giai đoạn vỗ béo), nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng khối lượng thịt xẻ ở lợn thương phẩm $F_1$ (Landrace $\times$ Yorkshire) mà không làm suy giảm chất lượng thân thịt.
Kiến nghị của luận án
- Thử nghiệm lên men một số nguồn phụ phẩm nông nghiệp khác bằng chế phẩm đa enzyme của đề tài để làm thức ăn cho các đối tượng vật nuôi khác nhau.
- Tiến hành thử nghiệm trên quy mô rộng hơn và xác định hiệu quả kinh tế chi tiết trong việc sử dụng phụ phẩm lên men làm thức ăn chăn nuôi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế và các vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu thực nghiệm mới tập trung trên đối tượng bã sắn thu gom tại khu vực Hoài Đức (Hà Nội) và thử nghiệm dinh dưỡng trên giống lợn lai $F_1$ (Landrace $\times$ Yorkshire). Luận án chưa khảo sát mở rộng trên các nguồn cơ chất phụ phẩm nông nghiệp đa dạng khác cũng như chưa đánh giá trên các nhóm vật nuôi khác (như gia cầm hoặc gia súc nhai lại).
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất gồm:
- Mở rộng thử nghiệm công nghệ lên men và chế phẩm đa enzyme trên các nguồn phụ phẩm trồng trọt và công nghiệp thực phẩm khác (bã mía, rơm rạ, vỏ trấu, bã dong riềng, mùn cưa).
- Đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn lên men đa enzyme trên các đối tượng vật nuôi khác nhau.
- Triển khai mô hình ở quy mô sản xuất lớn hơn và hạch toán toàn diện hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi nông hộ và trang trại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Chăn nuôi, Dinh dưỡng động vật, Công nghệ sinh học và Vi sinh vật học ứng dụng: Có thể tham khảo phương pháp luận gây đột biến kết hợp NTG/UV, quy trình tối ưu hóa lên men xốp đơn biến, phương pháp định lượng enzyme bằng kỹ thuật DNS (Miller, 1959) và thiết kế thí nghiệm dinh dưỡng động vật.
- Các nhà máy, cơ sở sản xuất chế biến thức ăn chăn nuôi và chế phẩm sinh học: Có thể tham khảo thông số kỹ thuật nuôi cấy A. niger GA15 để sản xuất đa enzyme thô chi phí thấp.
- Các trang trại chăn nuôi lợn và cơ sở chế biến tinh bột sắn: Ứng dụng quy trình công nghệ đường hóa - lên men đồng thời để tự sản xuất thức ăn giàu đạm từ bã sắn tươi, giảm chi phí thức ăn hỗn hợp và giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải rắn.
Câu hỏi thường gặp
1. Chủng đột biến Aspergillus niger GA15 được tạo ra bằng phương pháp nào và hoạt tính enzyme tăng bao nhiêu so với chủng gốc?
Chủng A. niger GA15 được tạo ra bằng phương pháp gây đột biến ngẫu nhiên đồng thời bằng tác nhân hóa học NTG ($100\text{ mg/ml}$) và chiếu bức xạ tia UV (đèn 50 W, khoảng cách 30 cm) trên dịch bào tử chủng hoang dại A. niger A45.1. So với chủng hoang dại ban đầu, hoạt tính của α-amylase ở chủng GA15 tăng gấp 1,97 lần, glucoamylase tăng gấp 2,20 lần và cellulase tăng gấp 1,90 lần.
2. Các điều kiện môi trường tối ưu cho quá trình lên men xốp của chủng Aspergillus niger GA15 là gì?
Điều kiện lên men xốp tối ưu được xác định gồm: cơ chất cám mì, độ ẩm cơ chất 50%, pH ban đầu 5,5, nhiệt độ lên men 30°C, thời gian lên men 5 ngày, tuổi giống cấy 2 ngày, bổ sung 1% glucose và 1% ure. Ở điều kiện này, hoạt tính α-amylase, glucoamylase và cellulase đạt lần lượt là 76,75 U/g; 50,00 U/g và 40,11 U/g (cao gấp 2,0; 1,9 và 3,3 lần so với điều kiện chưa tối ưu).
3. Công nghệ đường hóa và lên men đồng thời làm thay đổi giá trị dinh dưỡng và độc tố của bã sắn tươi như thế nào?
Quá trình lên men lỏng bã sắn tươi (30% cơ chất, 8% đa enzyme thô, 0,5% probiotic S. cerevisiae, Lactobacillus sp., Bacillus sp., 1% $(NH_4)_2SO_4$, thời gian 48 giờ) giúp hàm lượng protein thô tăng gấp 7,3 lần, protein thực tăng gấp 5,5 lần, hàm lượng axit hữu cơ tăng gấp 5,9 lần, pH đạt 3,7. Đồng thời, độc tố HCN giảm mạnh từ 26,9 mg/kg tươi xuống còn 1,4 g/kg, bã sắn chuyển màu vàng tương đỗ, có mùi thơm, vị chua dịu và không chứa độc tố aflatoxin $B_1$.
4. Mức bổ sung bã sắn lên men (BSLM) nào trong khẩu phần mang lại hiệu quả chăn nuôi lợn thịt tốt nhất?
Mức bổ sung 20% BSLM vào khẩu phần ăn mang lại hiệu quả tốt nhất: tăng trọng bình quân hàng ngày (ADG) tăng 8,97% ở giai đoạn 1 (từ 20 kg) và tăng 34,46% ở giai đoạn 2 (đến xuất bán) so với đối chứng; hệ số FCR ở hai giai đoạn đạt 2,10 và 2,45; khối lượng móc hàm và thịt xẻ tăng tương ứng 11,15% và 11,19% so với đối chứng mà không làm ảnh hưởng đến phẩm chất và thành phần hóa học của thịt.
5. Chế phẩm probiotic sử dụng trong quá trình lên men đồng thời bã sắn gồm những vi sinh vật nào và mật độ ra sao?
Chế phẩm probiotic được sử dụng ở tỷ lệ 0,5% (w/v), gồm hỗn hợp 3 chủng vi sinh vật: Saccharomyces cerevisiae, Lactobacillus sp. và Bacillus sp. với mật độ đạt $10^7\text{ cfu/g}$ đối với mỗi loại vi sinh vật.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Thu Hương đã chọn tạo thành công chủng đột biến Aspergillus niger GA15 có khả năng sinh tổng hợp đồng thời α-amylase, glucoamylase và cellulase với hoạt tính cao và ổn định. Đề tài đã xây dựng hoàn chỉnh quy trình lên men xốp tối ưu để sản xuất đa enzyme và quy trình đường hóa kết hợp lên men lỏng bã sắn tươi bằng enzyme thô cùng hệ probiotic và đạm vô cơ. Kết quả thử nghiệm khẳng định bã sắn lên men là nguồn thức ăn giàu đạm, an toàn sinh học, và việc bổ sung 20% BSLM vào khẩu phần giúp nâng cao rõ rệt tốc độ sinh trưởng cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn thịt $F_1$ (Landrace $\times$ Yorkshire). Công trình cung cấp giải pháp kỹ thuật gắn kết giữa công nghệ sinh học và chăn nuôi ứng dụng, góp phần giảm chi phí sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ phụ phẩm chế biến nông sản.