ĐẶT VẤN ĐỀ Loài Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk) thuộc họ Sim (Myrtaceae) có phân bố tự nhiên ở nhiều tỉnh của Việt Nam. Cây Sim là loài cây tiên phong ƣa sáng, phân bố rộng ở Việt Nam có thể sống đƣợc ở những nơi đất cằn cỗi, nhiều đá lộ đầu, tầng đất mỏng, đất chua phèn, hay khô hạn, đất trống, trảng cây bụi, dƣới tán rừng trồng tạo thành tầng cây bụi, thảm tƣơi có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn tốt, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Sim có hoa đẹp màu tím vào mùa hoa nở tạo ra cảnh quan rất đẹp nhƣ một bức tranh của thiên nhiên ban tặng. Vào mùa hoa nở và quả chín tạo ra cảnh quan đẹp.
Do đó, cây Sim đang là một trong những cây Lâm sản ngoài gỗ có tiềm năng phát triển ở những vùng đất nghèo dinh dƣỡng, chua, khô hạn… vừa góp phần vào cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, vừa tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, vừa tăng giá trị sử dụng đất đồng thời giảm suy thoái đất nhất là việc chống sa mạc hóa tài nguyên đất đai ở nƣớc ta. Sim là loài cây lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng: quả khi chín màu tím, ăn có vị ngọt hơi chát, mùi thơm nhẹ với hƣơng vị tự nhiên đặc biệt, có thể dùng ăn tƣơi, ngâm si rô nhƣ quả Mơ lông hay quả Dâu, chế biến thành rƣợu vang hoặc để ngâm với rƣợu uống; quả có chứa các flavon-glucosid, malvidin- 3glucosid, các hợp chất phenol, các acid amin, đƣờng và acid hữu cơ; các bộ phận của cây Sim còn đƣợc dùng làm thuốc, thân và lá có nhiều hợp chất triterpen nhƣ betullin, acidbetulinic, taraxerol. trong đông y búp và lá và vỏ cây Sim dùng chữa bệnh tiêu hóa, tiêu chảy, kiết lỵ, ăn uống không tiêu, dạ dày, sát trùng, cầm máu; rễ dùng chữa viêm khớp, đau xƣơng [1] [11]. Quả Sim hiện nay bán trên thị trƣờng chủ yếu là thu hái ngoài tự nhiên ở một số vùng đồi núi, một số ít đƣợc trồng có số lƣợng phân tán không nhiều.
Hiện nay, quả Sim đƣợc coi là loại quả "sạch tuyệt đối" nên giá thu mua tại một số đại lý tại Quảng Bình và Phú Quốc biến động từ 30.000đ/kg quả tƣơi, nhu cầu của khách du lịch và ngƣời tiêu dùng tăng cao nhƣng chƣa đƣợc đáp ứng. Tại Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang quả đƣợc chế biến thành mật Sim, vang chai để bán tại chỗ và phục vụ du khách với giá bán 350.000đ/ lít, đây đƣợc coi là đặc sản của Phú Quốc rất đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣa chuộng cần nghiên cứu phát triển. Điều đó đang mở ra tiềm năng lớn trong chế biến và thị trƣờng đầu ra khi phát triển loài cây này. Giá trị kinh tế có đƣợc từ việc trồng cây Sim đang góp phần giúp ngƣời dân thoát nghèo.
Đây là loài cây lâm sản ngoài gỗ có thể chọn để giảm nghèo và tận dụng đƣợc đất đai, góp phần bảo vệ rừng của ngƣời dân sống gần rừng. Về mặt xã hội, cây Sim đã giúp một số hộ ngƣời dân có công ăn việc làm góp phần từng bƣớc chuyển dịch cơ cấu thu nhập. Những năm trƣớc đây cuộc sống của ngƣời dân vùng đồi núi phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập từ thu hái lâm sản trên rừng, sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào cây lúa nhƣng không bao giờ đủ ăn. Đất đai rộng nhƣng không phù hợp để phát triển các loài cây nông nghiệp có giá trị, khi phát triển gây, trồng cây Sim kinh tế hộ sẽ đƣợc cải thiện.
Vì vậy, hiện nay ở nhiều nơi ngƣời dân rất mong muốn phát triển loài Sim để cung cấp sản phẩm cho thị trƣờng, thay đổi cơ cấu cây trồng và tạo thu nhập ổn định trên những vùng đất khô chua nghèo dinh dƣỡng. Quảng Trạch là huyện miền núi tỉnh Quảng Bình cách trung tâm tỉnh lỵ khoảng 50 km về nằm về phía Bắc. Cây Sim có phân bố khá nhiều tại vùng đồi núi của Quảng Trạch. Trƣớc đây, quả Sim chủ yếu đƣợc thu hái trong tự nhiên để sử dụng trong địa phƣơng.
Gần đây, do quả Sim đƣợc một số cơ sở chế biến thu mua để chế biến thành nhiều loại sản phẩm với nhu cầu tiêu thụ rất lớn, đã mang lại thu nhập cao cho ngƣời thu hái Sim ở địa phƣơng. Điều này đã mở ra tiềm năng để phát triển một loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao, vừa góp phần cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, vừa tạo việc làm và thu nhập ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo 3 cho ngƣời trồng, ngƣời thu hái cũng nhƣ buôn bán, chế biến Sim. Đồng thời góp phần tăng giá trị sử dụng đất, giảm suy thoái đất nhất là việc chống sa mạc hóa tài nguyên đất đai ở huyện Quảng Trạch nói riêng, ở nƣớc ta nói chung. Cây Sim đã có từ lâu trên địa bàn huyện Quảng Trạch, chủ yếu là mọc trên các đồi núi trọc và xen lẫn giữa rừng tự nhiên, hiện nay cây Sim đã đƣợc một số ngƣời dân địa phƣơng đƣa về trồng đại trà mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Vì vậy, kết quả bƣớc đầu nghiên cứu về cây Sim ở huyện Quảng Trạch sẽ cung cấp một số thông tin cơ bản, làm cơ sở đề xuất giải pháp nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của cây Sim ở địa phƣơng là cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phát triển loài Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk) lấy quả tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình”. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng nhƣ những dịch vụ có đƣợc từ rừng và đất rừng (Dịch vụ trong định nghĩa này là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến các sản vật này (FAO, 1995) [7].
LSNG bao gồm “tất cả sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng đƣợc dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xã hội. Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm.thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng” (Wickens,1991) [3]. Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nƣớc vùng Châu Á, Thái Bình Dƣơng họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua định nghĩa về LSNG nhƣ sau: LSNG (Non wood forest products) bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ củi và than. LSNG đƣợc khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ.
Vì vậy, các sản phẩm nhƣ cát, đá, nƣớc, du lịch sinh thái không phải là các LSNG (FAO, 1991) [13] [16]. LSNG theo de Beer, J. và Mc Dermott, M. (1989) là nguồn tài nguyên sinh vật ngoài gỗ, đƣợc khai thác từ rừng để phục vụ cho con ngƣời.
Chúng bao gồm: các bộ phận của cây (hoa, quả, hạt,…), nhựa, dầu, gôm, cây làm thuốc, cây hƣơng liệu, cây làm cảnh, cây cho tanin, cây cho sợi, tre nứa, song mây,… động vật hoang dã trong rừng [14]. de Beer (1993) : Lâm sản ngoài gỗ (NTFP-Non timber forest products) bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, đƣợc khai thác từ rừng để phục vụ con ngƣời. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động 5 vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô nhƣ tre nứa, song mây, gỗ nhỏ và sợi. Theo Tổ chức FAO thông qua 1999 LSNG (NTFP hoặc NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, đƣợc khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng (FAO, 1999).
Loài Sim thuộc nhóm cây lâm sản ngoài gỗ có nhiều công dụng khác nhau nhƣ lá, thân và rễ dùng làm thuốc chữa bệnh; cành lá dùng làm chất nhộm màu, hoa đẹp có thể dùng làm cảnh và đặc biệt quả dùng làm thực phẩm để ăn tƣơi hay chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau. Tổng quan nghiên cứu về cây Sim 1. Những nghiên cứu trên thế giới Họ Myrtaceae chứa ít nhất 3.000 loài, phân bố trong 130-150 chi, chúng phân bố rộng khắp ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm áp trên thế giới và nói chung rất phổ biến trong nhiều khu vực đa dạng của thế giới. Cây Sim thuộc Chi Sim (Rhodomyrtus), mọc tự nhiên phổ biến ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới, có nguồn gốc bản địa ở khu vực Nam và Đông Nam Á, từ Ấn Độ, về phía đông đến miền Nam trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Philippines, về phía nam tới Malaysia và Sulawesi.
Loài cây này thƣờng mọc ở các vùng ven biển, rừng tự nhiên, ven sông suối, các các vùng đất ngập nƣớc, rừng ẩm ƣớt tại độ cao đến 2.400m so với mực nƣớc biển. Sau đó cây Sim đƣợc du nhập vào các nƣớc Pháp, Mỹ và đƣợc coi nhƣ một loài ngoại lai xâm hại. Các nghiên cứu trên thế giới, cụ thể: - Robert. Scherer: Cây cho ngƣời (Plants for man) (1972), Giới thiệu cây Sim làm cây ăn quả có ích.
- Tài nguyên thực vật ở Đông Nam Á (Prosea 1992) (Plant resources of South-East Asia Dye and Tannin producing plants), tập 3: Thực vật cho sản phẩm nhuộm và tamin, giới thiệu cây Sim và cây tiểu Sim cho chất nhuộm [17]. - Trên thế giới, theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Sản phẩm 6 tự nhiên, Khoa Y học truyền thống, Khoa khoa học, Đại học Prince of Songkla, Hat Yai, Songkhla 90112, Thái Lan (2009) thì lá của cây Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Aiton) Hassk.) đƣợc nghiên cứu để chiết xuất tạo ra Rhodomyrtone - chất kháng và chống nhiễm trùng, vấn đề này đƣợc đề cập trong các tài liệu sau: • Surasak Limsuwan, Erik N. Kouwen, Sjouke Piersma, Asadhawut Hiranrat, Wilawan Mahabusarakam, Supayang P. Voravuthikunchai, Jan Maarten van Dijl, Oliver Kayser:” Phytomedicine” (2009), tập 16, vấn đề 6, trang 645 - 651, giới thiệu chất Rhodomyrtone là một thuốc kháng khuẩn tự nhiên từ cây Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Aiton) Hassk.
• Surasak Limsuwan, Anne Hesseling-Meinders, Supayan Piyawan Voravuthikunchai, Jan Maarten van Dijl, Oliver Kayse: “Phytomedicine” (2011), tập 18, vấn đề 11, trang 934 -940, giới thiệu tác dụng kháng sinh và chống nhiễm trùng của Rhodomyrtone từ cây Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Aiton) Hassk.) trên vi khuẩn Streptococcus pyogenes [20]. • Surasak Limsuwan, Oliver Kayser, Supayang Piyawan Voravuthikunchai: “Hoạt động kháng khuẩn của Rhodomyrtus tomentosa (Aiton) Hassk. Chiết xuất lá đối với phân lập lâm sàng của Streptococcus pyogenes”.