CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và đặc điểm của kỷ luật lao động 1. Khái niệm kỷ luật lao động Quá trình lao động chung của con người đòi hỏi phải có trật tự, nề nếp để hướng hoạt động của từng người vào việc thực hiện kế hoạch chung và tạo ra kết quả chung đã định. Cái tạo ra trật tự, nề nếp trong quá trình lao động chung giữa một nhóm người hay trong một đơn vị đó là kỷ luật lao động.
Với ý nghĩa này, kỷ luật lao động là yêu cầu khách quan đối với tất cả các cơ quan, doanh nghiệp, hay tổ chức.hay rộng hơn là bất kỳ một xã hội, một nền sản xuất nào. Đặc biệt trong điều kiện sản xuất ngày càng phát triển, cùng với nó là trình độ phân công, tổ chức lao động trong xã hội ngày càng cao và vì vậy, kỷ luật lao động ngày càng trở nên quan trọng. Trong quan hệ lao động, xét về góc độ pháp lý và quản lý, kỷ luật lao động là một yếu tố không thể thiếu được. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, kỷ luật lao động được hiểu là “chế độ làm việc đã được quy định và sự chấp hành nghiêm túc đúng đắn của mỗi cấp, mỗi nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động.
Tạo ra sự hài hòa trong hoạt động của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất”. Theo quy định tại Điều 118 BLLĐ 2012 quy định: “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động.” Từ một số nhận định trên, kỷ luật lao động có thể được hiểu là: “”Kỷ luật lao động những quy định về chế độ làm việc bao gồm thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh được chấp hành nghiêm túc bởi một nhóm, mỗi người trong quá trình lao động nhằm tạo ra sự hài hoà trong trong hoạt động của các yêu tố sản xuất, kinh doanh” 1. Đặc điểm của kỷ luật lao động Kỷ luật lao động mang những đặc điểm sau: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, ban hành kỷ luật lao động là quyền của NSDLĐ. Cơ sở lý luận giải thích cho quyền này của NSDLĐ bao gồm: Trong quá trình làm việc tại đơn vị đó, “ông chủ” hiển nhiên có quyền quản lý quá trình lao động của nhân viên của mình, nhân viên cũng có trách nhiệm phải tuân thủ theo những yêu cầu quản lý quá trình lao động do đơn vị mình đề ra, tất cả những điều này thường được quy định rõ ràng trong hợp đồng lao động.
NSDLĐ bỏ tiền ra mua sức lao động của NLĐ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Về bản chất thì quan hệ lao động là quan hệ trao đổi mua bán một loại hàng hoá đặc biệt đó chính là sức lao động và hợp đồng lao động là những điều khoản để đảm bảo tính công bằng về quyền lợi giữa hai bên trong quan hệ mua bán này. Với bản chất là việc trao đổi mua bán một loại hàng hoá đặc biệt là sức lao động, NSDLĐ đóng vai trò như một thương nhân trong quan hệ kinh tế. Mục đích hoạt động của thương nhân luôn là lợi nhuận vì vậy việc NSDLĐ bỏ tiền ra mua sức lao động của NLĐ chung quy lại là vì mục tiêu thu về lợi nhuận.
Để đạt được lợi nhuận cao nhất, NSDLĐ thường đặt ra những yêu cầu về mục tiêu, năng suất, hiệu quả cho quá trình lao động của NLĐ thông qua việc đặt ra kỷ luật lao động. Năng suất, hiệu quả của quá trình lao động bản thân cũng là cơ sở để NLĐ đòi hòi các quyền lợi cho chính bản thân mình, là động lực để họ cố gắng hoàn thiện hơn nữa tay nghề, chuyên môn, kiến thức. Thứ hai, kỷ luật lao động được ban hành phải phù hợp với các quy định của pháp luật: Mỗi đơn vị có cơ cấu tổ chức, ngành nghề hoạt động kinh doanh là khác nhau, do đó kỷ luật lao động mang tính đặc thù riêng phù hợp với điều kiện của đơn vị đó. Tuy nhiên, việc xây dựng và ban hành kỷ luật lao động tại đơn vị phải tuân thủ và phù hợp với các quy định chung của pháp luật, phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
Đây là yêu cầu bắt buộc đối với việc ban hành kỷ luật lao động nhằm đảm bảo tính thống nhất, các nguyên tắc của pháp luật Việt Nam. Thứ ba, chủ thể thực hiện kỷ luật lao động trong đơn vị sử dụng lao động là NLĐ trong đơn vị: NLĐ có nghĩa vụ, bổn phận phải tuân theo các quy định về kỷ luật lao động mà NSDLĐ thiết lập nên. Sở dĩ NLĐ phải có nghĩa vụ này là bởi, khi tham gia quan hệ lao động, NLĐ chỉ có sức lao động, có nhu cầu đngười viết bán để mang lại thu nhập để 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nuôi sống bản thân và gia đình. Trong quá trình lao động đó họ luôn mong muốn nâng cao thu nhập, thu nhập càng cao càng tốt.
Vì thế, để đạt được lợi ích đặt ra, NLĐ không chỉ “tự nguyện” bởi đây không chỉ là cơ sở giúp họ đòi hỏi thêm những lợi ích khác cho bản thân mà còn là bổn phận phải tuân theo các quy định của NSDLĐ. Khái niệm và đặc điểm của xử lý vi phạm kỷ luật lao động 1. Khái niệm xử lý vi phạm kỷ luật lao động Trong quá trình lao động, NSDLĐ có quyền ban hành những nguyên tắc, hình thức xử lý kỷ luật đối với những hành vi vi phạm kỷ luật lao động của NLĐ để đảm bảo trật lao động tại đơn vị mình. Trên cơ sở đó, NLĐ có trách nhiệm phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc đó của NSDLĐ.
Trường hợp NLĐ không chấp hành các quy định đó có thể chịu hình thức xử lý kỷ luật tướng ứng với hành vi vi phạm của mình. Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm xử lý kỷ luật lao động như sau: “Xử lý kỷ luật lao động là quá trình NSDLĐ xem xét và giải quyết về việc NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật bằng cách buộc họ phải chịu một trong các hình thức kỷ luật do nhà nước quy định”. Việc buộc NLĐ phải chịu một trong các hình thức xử lý kỷ luật do nhà nước quy định khi có hành vi vi phạm thể hiện đây là biện pháp mang tính cưỡng chế cao, là yêu cầu tất yếu trong việc thiết lập kỷ luật khi NSDLĐ thực hiện hoạt động quản lý. Từ những nhận định và phân tích trên, ta có thể hiểu: “Xử lý kỷ luật lao động hay trách nhiệm xử lý kỷ luật lao động là việc NSDLĐ áp dụng đối với NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật lao động bằng các hình thức xử lý theo quy định”.
Đặc điểm của xử lý vi phạm kỷ luật lao động Với vai trò là chế định đảm bảo cho việc thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật lao động, xử lý vi phạm lỷ luật mang những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động là NSDLĐ: NSDLĐ có quyền xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật. Đây là quyền xuất phát từ quyền quản lý lao động chứ không phải là nội dung thỏa thuận giữa NSDLĐ và người lao động, NLĐ vào làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động, họ bắt buộc phải chấp hành các quy định về kỷ luật lao động mà người sử dụng lao động đã ban hành. Song, việc ban hành các quy định về kỷ luật lao động cũng như việc áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật lao động của người sử dụng lao động phải 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong khuôn khổ các quy định của pháp luật hay nói cách khác quyền này có giới hạn. Nếu không có sự giới hạn về việc này, NSDLĐ lạm dụng quyền của mình để xử lý kỷ luật hoặc thậm chí là sa thải NLĐ một cách tùy tiện, điều này sẽ tạo ra bất lợi cho NLĐ.
Thứ hai, mục đích của việc xử lý vi phạm kỷ luật nhằm trừng phạt, răn đe, thiết lập và duy trì trật tự lao động trong đơn vị: Giống như các chế tài xử phạt trong các quy định của pháp luật nói chung, xử lý vi phạm kỷ luật nhằm mục đích trừng phạt, răn đe, thiết lập trật tự lao động trong đơn vị, đồng thời đảm bảo kỷ luật lao động được thực hiện nghiêm chỉnh, từ đó xây dựng nên ý thức chấp hành kỷ luật lao động của người lao động cũng như văn hoá doanh nghiệp. Việc thiết lập và duy trì trật tự lao động trong đơn vị tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, vận hành đơn vị một cách hiệu quả; nâng cao năng suất lao động cho đơn vị nói riêng và nền kinh tế nói chung. Thứ ba, chỉ xử lý kỷ luật lao động khi có vi phạm kỷ luật lao động dựa vào những căn cứ theo quy định của pháp luật. Căn cứ để áp dụng xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ là hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
Nói cách khác, NSDLĐ chỉ có thể căn cứ vào hành vi vi phạm kỷ luật của NLĐ để xử lý kỷ luật lao động. Hành vi vi phạm kỷ luật lao động của NLĐ ở đây có thể là hành vi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến nội quy lao động của đơn vị hoặc quyền điều hành của NSDLĐ mà phải bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Nói cụ thể hơn, hành vi vi phạm kỷ luật lao động là thực hiện những hành động bị nội quy lao động cấm hoặc không thực hiện hành động mà nội quy lao động buộc phải thực hiện. Nhìn chung, các nghĩa vụ lao động rộng hơn những nghĩa vụ theo nội quy lao động.
Nói cách khác, các nghĩa vụ theo nội quy lao động là một phần chủ yếu, quan trọng trong nghĩa vụ lao động nói chung. Chẳng hạn như, ngoài việc tuân thủ các nghĩa vụ trong nội quy lao động, NLĐ còn phải tuân thủ các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng lao động, hoặc đã được quy định trong thỏa ước lao động tập thể… Do vậy, không phải mọi vi phạm nghĩa vụ lao động của NLĐ đều bị NSDLĐ áp dụng các hình thức kỷ luật lao động. Ý nghĩa của chế định xử lý vi phạm kỷ luật lao động 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.