Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong hoạt động sáp nhập NHTMCP: Chương 2. Thực trạng pháp luật trong hoạt động sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam hiện nay; Chương 3.Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong hoạt động sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam hiện nay. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1.
Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong hoạt động sáp nhập NHTMCP 1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động sáp nhập NHTMCP 1.1 Khái quát chung về hoạt động sáp nhập NH * Trên thế giới: Hơn 100 năm qua, lịch sử nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sáu làn sóng mua bán, sáp nhập diễn ra xung quanh những mốc thời gian: năm 1900, 1920, 1960, 1980, 1990, 2000. Những làn sóng mua bán, sáp nhập này được diễn ra chủ yếu ở các nước phương Tây, nơi mà nền kinh tế sớm phát triển với trình độ khoa học-kỹ thuật cao hơn so với các khu vực khác. Làn sóng thứ nhất bắt đầu ở Mỹ và châu Âu và diễn ra trong ngành công nghiệp để tạo ra sự độc quyền ngang.
Làn sóng mua bán với mục tiêu tạo độc quyền đi đến kết thúc trong giai đoạn 1903-1905, khi thị trường vốn gặp khó khăn. Làn sóng thứ hai được bắt đầu như một sự phản ứng đối với việc thực hiện các quy định của luật chống độc quyền - bản luật ra đời sau hệ quả để lại của làn sóng mua bán, sáp nhập đầu tiên. Mục đích của luật là chống lại sự độc quyền vì vậy các công ty thống lĩnh buộc phải giải tán và hướng tới hoạt động mua bán, sáp nhập dọc. Giai đoạn này được bắt đầu từ cuối những năm 1910 và tiếp tục cho đến năm 1929 khi thị trường chứng khoán đi xuống.
Làn sóng thứ ba bắt đầu khoảng vào năm 1965. Do sự suy thoái kinh tế trên toàn thế giới vào những năm 1930 và chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ngay sau đó, trong giai đoạn này không có nhiều điểm lưu ý đối hoạt động mua bán, sáp nhập. Được bắt đầu từ giữa những năm 1960, làn sóng này kết thúc vào năm 1973 khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầy nền kinh tế thế giới đi vào đợt suy thoái khác. Ở Mỹ, sự bắt đầu của làn sóng mua bán, sáp nhập thứ ba đi cùng với những quy định chống độc quyền vào những năm 1950.
Những quy định nghiêm khắc về chống độc quyền này đã buộc các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công ty của Mỹ phải đi theo hướng đa dạng hóa thông qua việc thực hiện mua bán, sáp nhập. Theo đó các công ty theo đuổi sự phát triển nhanh chóng bị bỏ lại với lựa chọn duy nhất là tiếp quản các công ty ngoài lĩnh vực kinh doanh của họ. Trong những năm 1960, các công ty đã phải tìm cơ hội phát triển với thị trường sản phẩm mới không liên quan để nâng cao giá trị cho công ty mình. Làn sóng thứ 4 được đặt ra bởi quá trình chuyển đổi môi trường kinh doanh như thay đổi trong chính sách độc quyền, tạo ra các thị trường và công cụ tài chính mới cũng như những tiến bộ công nghệ trong ngành công nghiệp thông tin và viễn thông.
Làn sóng mua bán, sáp nhập này được đặc trưng bởi sự thâu tóm mang tính thù địch chưa từng xuất hiện trước đó. Nó được bắt đầu từ năm 1978, khi thị trường chứng khoán được phục hồi từ cuộc suy thoái kinh tế trước đó và kết thúc vào năm 1989. Làn sóng thứ năm được bắt đầu từ năm 1993. Cũng giống như các giai đoạn trước, nó phát triển cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế và dừng lại khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 2000.
Giai đoạn này được đặc trưng bởi các thương vụ tái cơ cấu lớn trong toàn ngành công nghiệp. Làn sóng thứ sáu bắt đầu vào khoảng giữa năm 2003. Giai đoạn này, hoạt động mua bán, sáp nhập phát triển cùng với sự phục hồi của nền kinh tế và thị trường tài chính sau cuộc suy thoái đã xảy ra vào năm 2000 [53]. Theo xu hướng tự do hóa tài chính và xóa bỏ những hạn chế về đầu tư, các nền kinh tế Đông Á cũng tham gia vào lĩnh vực mua bán, sáp nhập doanh nghiệp từ giữa những năm 1980.
Đi đầu trong hoạt động này phải kể đến những nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông [50]. Trong bối cảnh diễn ra các làn sóng sáp nhập trên, hoạt động mua bán sáp nhập NHTM trên thế giới cũng được thực hiện từ sớm. Các NH ở những quốc gia phát triển đã phát triển đến mức bão hoà với quy luật lợi nhuận giảm dần nên doanh thu, lợi nhuận cũng giảm do đó hoạt động sáp nhập diễn ra 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhằm cắt giảm chi phí, mở rộng mạng lưới hoạt động, bổ sung, đa dạng hoá sản phẩm, tăng cường quy mô kinh doanh cũng như lợi thế cạnh tranh đáp ứng với xu thế phát triển của nền kinh tế khu vực hoá và quốc tế hoá. Ví dụ, tại Mỹ thời gian qua đã có nhiều cuộc sáp nhập với những lý do như: Các NH Mỹ đã cho vay các nước đang phát triển quá nhiều nên nguy cơ thiếu vốn gia tăng; Sự khác biệt về luật pháp làm cho nguồn dự trữ của hệ thống dự trữ liên bang không lớn; Mạng lưới chi nhánh của các NH Mỹ không lớn do các hạn chế về mở chi nhánh ở các bang khác nhau.
Tuy nhiên, nhìn chung, tuỳ thuộc vào quy mô của các NH mà lý do sáp nhập cũng khác nhau. Đối với các NH lớn, lý do quan trọng nhất là cắt giảm chi phí hoạt động và gia tăng quy mô kinh doanh nhờ việc sáp nhập sẽ tăng vốn huy động, tăng vốn điều lệ và giới hạn cho vay từng khách hàng đơn lẻ. Ngoài ra cũng có thể để đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ kinh doanh, tăng uy tín của NH hoặc tiết kiệm chi phí thành lập chí nhánh. Đối với các NHTM, M&A hoặc bán lại cho những NHTM lớn vì thiếu vốn điều lệ hoặc tránh phá sản hoặc để tối đa hoá lợi ích của các cổ đông.
Ngoài ra, các NHTM nhỏ cũng có thể tiến hành M&A để thành một NHTM. * Tại Việt Nam: Tại Việt Nam đã có nhiều vụ sáp nhập NH diễn ra từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, chẳng hạn như NHTMCP Đồng Tháp, NHTMCP Đại Nam, NHTMCP Nông thôn Châu Phú, NHTMCP Nông thôn Cái Sắn được sáp nhập vào NHTMCP Phương Nam lần lượt các năm 1997, 1999, 2001, 2003; NHTMCP Thạnh Thắng được sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn thương tín năm 2001; NHTMCP Nông thôn Tây Đô sáp nhập vào NHTMCP Phương Đông năm 2003. Với quy mô nhỏ của các NH bị sáp nhập, việc chuyển các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động của TCTD cổ phần được sáp nhập (gồm tiền gửi, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiền vay, các khoản đầu tư, cho vay, công nợ các khoản phải thu phải trả.) sang TCTD nhận sáp nhập cũng đơn giản hơn. Cùng với đó thì quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cổ đông của TCTD cổ phần được sáp nhập cũng được giải quyết trên cơ sở tự thoả thuận giữa hai chủ thể.
Trên thực tế, với kinh nghiệm sáp nhập của mình, NHTMCP Phương Nam đã tiến hành nhiều thương vụ nhận sáp nhập nhằm nâng cao năng lực, mở rộng quy mô hoạt động mà không gây ra những rắc rối xung quanh vấn đề sáp nhập. Một số các giao dịch sáp nhập NH khác trong thời gian này cũng không đặc biệt gây nhiều ấn tượng về mặt pháp lý mặc dù hàng lang pháp luật cho hoạt động sáp nhập có nhiều hạn chế. Chính vì vậy trong khoảng thời gian hơn chục năm kể từ khi Quy chế sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD cổ phần Việt Nam năm 1998 được ban hành, nhu cầu xây dựng văn bản mới thay thế Quy chế này vẫn chưa thật sự bức thiết. Chỉ đến khi chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, một trong những chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm chủ động ứng phó với tác động từ cuộc khủng hoảng trên là việc NHNN sớm xây dựng, trình Chính phủ ban hành quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại, phá sản những NH gặp vấn đề, để có căn cứ pháp lý thực hiện chủ trương về cơ cấu lại đối với những NH thương mại và tổ chức tín dụng yếu kém, bảo đảm sự lành mạnh, an toàn của cả hệ thống.
Chúng ta có thể thấy đến giai đoạn này thì nhu cầu sáp nhập NH không chỉ đặt ra với các NH nông thôn mà áp lực từ nhiều phía đã đòi hỏi nhiều chủ thể với quy mô lớn, hoạt động không hiệu quả cũng phải tiến hành sáp nhập. Theo đó những vấn đề pháp lý về nhân sự, đãi ngộ, tích hợp hoạt động, bán và thanh lý tài sản, phản ứng của các đối thủ cạnh tranh, quan hệ và giao tiếp giữa các bộ phận và công ty thành viên, kế hoạch dự phòng cần phải được xem xét cẩn trọng. Trong khoảng thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tài 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính toàn cầu này, một số thông tin về việc sau khi Petro Việt Nam từ bỏ kế hoạch thành lập NH Hồng Việt, đã từng có kế hoạch đổ vốn, nhân lực và công nghệ dự định dành cho Hồng Việt để tham gia tái cấu trúc NH Dầu khí Toàn cầu. Tuy nhiên, sau rất nhiều vòng đàm phán, hai bên đã không đi đến được thỏa thuận cuối cùng.
Petro Vietnam đã phải trả lại tiền góp vốn thành lập NH Hồng Việt cho cán bộ, công nhân viên trong Tập đoàn, sắp xếp lại nhân sự đã từng tuyển dụng và dự kiến chuyển hệ thống công nghệ thông tin đã đầu tư cho Hồng Việt sang Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí. Trước đây, một số NH lớn khi nhận nhiệm vụ sáp nhập một số NH nhỏ đã mất rất nhiều thời gian và nguồn lực để giải quyết những tồn tại của các đơn vị này [44]. Như vậy có thể thấy không phải thương vụ tái cơ cấu nào cũng có thể đi kết hồi kết tốt đẹp, thậm chí còn gây nhiều tổn thất về tài chính cho các chủ thể này. Gần đây, cùng với đề ántái cấu trúc hệ thống NHTM được đưa ra bởi Chính phủ, một số vụ sáp nhập mới cũng được thực hiện.
Khái niệm * Khái niệm sáp nhập: “Sáp nhập” thường được nhắc đến trong thuật ngữ “mua lại và sáp nhập” là một thuật ngữ được dịch từ “merger and acquisition – M&A”.