Lời mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc thiết kế gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về mua bán nợ xấu và pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại nợ xấu của NHTM Thuật ngữ “nợ xấu” (viết tắt là NPL - Non performing loans) hay còn gọi là nợ khó đòi hay các khoản vay có vấn đề, đƣợc sử dụng phổ biến nhằm ám chỉ các khoản nợ bị suy giảm khả năng thu hồi hoặc mất khả năng thu hồi.
Hiện nay quan điểm và cách phân loại nợ xấu đã đƣợc tiếp cận và giải quyết dƣới nhiều góc độ khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, quy định về nợ xấu, phân loại nợ đã đƣợc ban hành và liên tục hoàn thiện. Những quy định này về cơ bản là phù hợp với nguyên tắc phân loại nợ của nhiều quốc gia nhƣ Mỹ, Nhật, Singapore, Trung Quốc… 1. Khái niệm, phân loại nợ xấu của NHTM Nợ xấu theo quan niệm Quốc tế Nhóm chuyên gia tƣ vấn (AEG) của Liên hợp quốc cho rằng: “Về cơ bản một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và /hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ”.
Nhƣ vậy, nợ xấu về cơ bản đƣợc xác định dựa trên hai yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây đƣợc coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đang đƣợc áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới [39]. Trong Hƣớng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đƣa ra định nghĩa về nợ xấu nhƣ sau: “Một khoản vay đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dƣới 90 ngày nhƣng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy ngƣời vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ nhƣ ngƣời vay phá sản). Sau khi các khoản vay đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu, nó hay bất kỳ khoản vay thay thế nào cũng nên đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi đƣợc lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi đƣợc khoản vay thay thế” (IMF’s Compilation Guideon Financial Soundness Indicators, 2004).
Uỷ ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả (a default) khi có một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: i) ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi. ii) ngƣời đi vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel committee on Banking Supervision, 2002). Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thƣờng đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming). Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chƣa tới 90 ngày hoặc chƣa quá hạn.
Phƣơng pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thƣờng là phƣơng pháp phân tích dòng tiền tƣơng lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này đƣợc coi là chính xác về mặt lý thuyết nhƣng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó đang đƣợc Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉnh sửa lại. Nợ xấu theo pháp luật Việt Nam Tại Việt Nam, quan niệm về nợ xấu hình thành tƣơng đối sớm.
Cùng với đòi hỏi thực tiễn cũng nhƣ theo xu hƣớng hội nhập, thì việc phân loại nợ, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khái niệm nợ xấu cũng nhƣ cơ chế xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM đã có những thay đổi rõ nét. Cụ thể: Quan niệm về nợ xấu của Ngân hàng trƣớc năm 2000 Trƣớc năm 2000, hệ thống NHTM Việt Nam chƣa có quy định cụ thể về nợ xấu mà chỉ có các quy định về nợ quá hạn, nợ khó đòi phát sinh do các nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan trong hoạt động tín dụng của các NHTM…Thời điểm này quan niệm về nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi và việc phân loại nợ xấu đƣợc xác định theo thời gian quá hạn, bao gồm: nợ quá hạn dƣới 90 ngày, nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày, nợ quá hạn từ trên 180 ngày đến 360 ngày, trong đó các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày đƣợc gọi là nợ khó đòi. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, các tổ chức tín dụng chỉ có thể chuyển nợ quá hạn đối với từng kỳ hạn trả nợ bị quá hạn, không đƣợc chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn. Việc áp dụng các biện pháp xử lý nợ cụ thể đƣợc căn cứ vào nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi không thu hồi đƣợc.
Quan niệm về nợ xấu từ năm 2000 đến năm 2005 Ngày 05/10/2001, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động phân loại nợ và xử lý các khoản nợ tồn đọng phát sinh trƣớc thời điểm 31/12/2000 của các NHTM. Mặc dù nội dung Quyết định 149/2001/QĐ-TTg không quy định cụ thể về nợ xấu nhƣng theo Quyết định này có thể hiểu nợ xấu bao gồm các khoản nợ tồn đọng phát sinh trƣớc thời điểm 31/12/2000 và không có khả năng trả nợ, mặc dù ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp theo quy định hiện hành nhƣng vẫn không thu hồi đƣợc nợ. Trong quá trình triển khai thực hiện Quyết đinh này, theo đề nghị của NHNN và các NHTM, Thủ tƣớng Chính phủ đã 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho phép đƣa vào trong đề án xử lý nợ tồn đọng đối với một số khoản nợ chƣa quá hạn trƣớc thời điểm 31/12/2000 nhƣng NHTM có đủ căn cứ để xác định khả năng khó thu hồi nợ. Nhƣ vậy, khác với giai đoạn trƣớc, các NHTM phân loại các khoản nợ xấu tồn đọng không căn cứ vào thời gian quá hạn cụ thể mà căn cứ vào tính chất và khả năng thu hồi nợ thông qua các biện pháp bảo đảm của khoản vay (có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm) và tình trạng pháp lý khách hàng (không còn tồn tại hoặc còn tồn tại, hoạt động) để phân loại thành 03 nhóm nợ tƣơng ứng với các cơ chế xử lý kèm theo khác nhau bao gồm: i) Nợ xấu tồn đọng có tài sản đảm bảo (nợ xấu tồn đọng nhóm 1); ii) Nợ xấu tồn đọng không có tài sản đảm bảo và không còn đối tƣợng thu hồi (nợ tồn đọng nhóm 2) và iii) Nợ xấu tồn đọng không có tài sản bảo đảm nhƣng con nợ đang còn tồn tại, hoạt động (nợ tồn đọng nhóm 3).
Quan niệm về nợ xấu từ năm 2005 đến nay Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về việc ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 thì việc xác định, phân loại nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã bƣớc đầu theo sát với thông lệ Quốc tế (phân loại căn cứ vào thực trạng khách hàng chứ không chỉ căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản cấp tín dụng). Đồng thời các tổ chức tín dụng có thể thực hiện xác định, phân loại các khoản nợ thành 05 nhóm nợ dựa trên phƣơng pháp phân loại nợ định lƣợng hoặc định tính. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân loại nợ theo phƣơng pháp định lƣợng: Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; Các khoản nợ quá hạn dƣới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ quá hạn đƣợc phân loại vào nhóm 1 khi khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu 06 tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn, và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ đƣợc phân loại vào nhóm 1 khi khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu 06 tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn đƣợc cơ cấu lại, và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã đƣợc cơ cấu lại còn lại.