Tổng quan luận án

Công tác bảo vệ môi trường (BVMT) giữ vị trí then chốt trong định hướng phát triển bền vững quốc gia. Nhằm huy động tối đa nguồn lực xã hội, một trong những nhiệm vụ cốt lõi được xác định tại Chiến lược BVMT quốc gia là xã hội hóa hoạt động BVMT. Phát triển dịch vụ môi trường (DVMT) là hướng tiếp cận cơ bản nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế, hỗ trợ các chủ thể thực hiện nghĩa vụ BVMT theo luật định, đồng thời nâng cao tỷ trọng đóng góp của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế.

Sự phát triển kinh tế làm gia tăng áp lực ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Cùng với sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, các nghĩa vụ pháp lý như đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và quản lý chất thải ngày càng chặt chẽ, tạo ra nhu cầu lớn về sử dụng DVMT. Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách như: Chỉ thị số 36/CT-TW (1998), Chỉ thị số 29/CT-TW (2009), Nghị quyết số 41-NQ/TW (2004), Nghị quyết số 06-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Chỉ thị số 15/2007/CT-TTg; các luật chuyên ngành gồm Luật BVMT 2005, Luật BVMT 2014, Luật BVMT 2020; các đề án, chiến lược của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 1030/QĐ-TTg năm 2009, Quyết định số 249/QĐ-TTg năm 2010, Quyết định số 1463/QĐ-TTg năm 2016, Quyết định số 1570/QĐ-TTg năm 2016, Quyết định số 192/QĐ-TTg năm 2017, Quyết định số 1658/QĐ-TTg năm 2021, Quyết định số 882/QĐ-TTg năm 2022) và các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ trong khuôn khổ WTO, CPTPP.

Mặc dù số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường gia tăng, ngành DVMT tại Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật BVMT 2005 và Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật BVMT 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đều ghi nhận: phần lớn doanh nghiệp cung ứng DVMT có quy mô nhỏ và vừa, thiếu nguồn lực để xử lý các vấn đề môi trường cấp bách; cơ chế chính sách hỗ trợ còn mang nặng tính định hướng; doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi; công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ còn tồn tại nhiều bất cập. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Pháp luật về dịch vụ môi trường ở Việt Nam" được lựa chọn nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về DVMT, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này tại Việt Nam.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về DVMT bao gồm khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của DVMT.
  2. Phân tích khái niệm, đặc điểm và xác định cơ cấu nội dung của pháp luật về DVMT.
  3. Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật quốc tế để rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam.
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về DVMT ở Việt Nam, nhận diện các hạn chế, bất cập và chỉ rõ nguyên nhân.
  5. Đưa ra định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về DVMT tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học về DVMT và pháp luật về DVMT; các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội tác động đến sự điều chỉnh của pháp luật; các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng; kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ và các chuẩn mực quốc tế liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý của quan hệ cung ứng và sử dụng DVMT, vận dụng các lý thuyết kinh tế học để xây dựng cơ sở phân tích dưới góc độ kinh tế học pháp luật.
    • Về thời gian: Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành từ thời điểm Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược BVMT quốc gia (tháng 9/2012) đến năm 2023.
    • Về không gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng trong nước, có so sánh đối chiếu với chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân loại theo các nhóm hướng nghiên cứu chính:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu tổng quan về dịch vụ công, dịch vụ môi trường và thị trường dịch vụ môi trường: Điểm lại các nghiên cứu lý luận nền tảng về khái niệm dịch vụ, dịch vụ công ích và sự hình thành thị trường DVMT trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, nhóm các nghiên cứu về DVMT dưới góc độ chính sách và chiến lược: Tập trung vào các công trình phân tích định hướng phát triển ngành công nghiệp môi trường, quy hoạch mạng lưới doanh nghiệp DVMT và các chính sách thúc đẩy kinh tế xanh, tăng trưởng bền vững của các cơ quan quản lý và các viện nghiên cứu.

Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về DVMT dưới góc độ pháp lý: Phân tích các nghiên cứu chuyên sâu về quy chế pháp lý của chủ thể kinh doanh dịch vụ, cơ chế cấp phép, quản lý chất lượng dịch vụ và chế độ ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực môi trường.

Thứ tư, nhóm các nghiên cứu về các loại dịch vụ cụ thể thuộc DVMT: Bao gồm các nghiên cứu chuyên biệt về dịch vụ xử lý nước thải, dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, dịch vụ quan trắc môi trường và dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM.

Luận án trích dẫn và kế thừa nhiều tài liệu, ấn phẩm học thuật tiêu biểu trong và ngoài nước, bao gồm: các ấn phẩm của WTO (W/120, S/C/W/46), tài liệu của OECD và EUROSTAT (1999), nghiên cứu của Mark D. Griffith (2009), Ronald Steenblik, Dominique Drouet và George Stubbs (2005), Arthur Chrenkoff (1969), Roscoe Pound (1909), Charles Fried (1981), Hanoch Dagan và Michael Heller (2013, 2017), Thomas J. Miceli (2009), Huỳnh Trung Hải và Nguyễn Đức Quảng (2014), Nguyễn Thị Quỳnh Hương và Nguyễn Hải Yến (2021), cùng các báo cáo tổng kết thi hành pháp luật môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013, 2020).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:

  • Đa số các công trình trước đây chỉ tiếp cận DVMT ở góc độ kỹ thuật môi trường, quản lý hành chính hoặc chính sách kinh tế đơn thuần, chưa xây dựng được một khung lý thuyết pháp lý hoàn chỉnh dựa trên nguyên lý kinh tế học pháp luật.
  • Các nghiên cứu chưa phân tích thấu đáo mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, chủ thể cung ứng dịch vụ và chủ thể sử dụng dịch vụ; chưa làm rõ tính chất hai mặt của Nhà nước khi vừa thực hiện quyền lực công vừa là chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường.
  • Thiếu các luận giải về việc chuyển dịch cơ chế ưu đãi từ hỗ trợ trực tiếp lợi nhuận sang kích cầu thị trường nhằm tối ưu hóa quy mô vận hành của doanh nghiệp DVMT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên hệ thống các học thuyết kinh tế học và pháp lý:

  • Lý thuyết về hiệu quả Pareto và lý thuyết Nhà nước phúc lợi: Đánh giá sự phân bổ nguồn lực tối ưu trong cung ứng DVMT và xác định giới hạn can thiệp của Nhà nước nhằm bảo đảm phúc lợi xã hội.
  • Lý thuyết người gây ô nhiễm phải trả tiền (Arthur Cecil Pigou): Cơ sở xác định nghĩa vụ tài chính của chủ thể xả thải và thiết lập cơ chế định giá DVMT.
  • Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Costs): Phân tích tính hiệu quả của các quy định pháp luật trong việc giảm thiểu chi phí thương thảo, ký kết và thực thi hợp đồng DVMT.
  • Lý thuyết cân bằng Lindahl (Erik Lindahl): Xem xét việc chia sẻ chi phí cung cấp hàng hóa công cộng và dịch vụ môi trường giữa các nhóm chủ thể trong xã hội.
  • Lý thuyết vai trò của Nhà nước trong điều chỉnh kinh tế vĩ mô (John Maynard Keynes): Luận giải chức năng can thiệp, điều tiết thị trường và hỗ trợ giá của Nhà nước đối với các dịch vụ mang tính công ích.
  • Lý thuyết về tự do hợp đồng (Freedom of Contract): Kế thừa tư tưởng tự do kinh tế của Adam Smith, thuyết vị lợi của Jeremy Bentham, quan điểm của Samuel von Pufendorf, Hugo Grotius, Roscoe Pound, Charles Fried và quan điểm hiện đại của Hanoch Dagan và Michael Heller (2013, 2017) với ba thành tố: nguyên tắc tự nguyện, tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng và tự do lựa chọn hình thức hợp đồng. Lý thuyết này được áp dụng để hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng cung ứng DVMT và hợp đồng đối tác công tư (PPP).
  • Lý thuyết kinh tế học pháp luật (Thomas J. Miceli, 2009): Dùng hiệu quả kinh tế làm hệ quy chiếu đánh giá chất lượng và mức độ phù hợp của các quy phạm pháp luật điều chỉnh DVMT.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp thống kê, tổng hợp: Thu thập, phân loại và xử lý dữ liệu thực tế về doanh nghiệp, vốn đầu tư, lao động và thực trạng cung ứng dịch vụ qua các bảng biểu, số liệu bằng Word và Excel.
  • Phương pháp phân tích: Thực hiện phân tích định tính các khái niệm pháp lý, nội hàm quy định và bản chất mối quan hệ pháp luật; phân tích định lượng mối tương quan giữa các biến số kinh tế và hiệu quả của chính sách ưu đãi.
  • Phương pháp luật học so sánh: So sánh quy định của WTO/GATS, OECD, EUROSTAT với pháp luật Việt Nam; đối chiếu quy định pháp luật qua các thời kỳ (Luật BVMT 2005, 2014, 2020) và so sánh với kinh nghiệm quản lý của Hoa Kỳ.
  • Phương pháp chứng minh: Luận giải các nhận định khoa học, kiểm định giả thiết và làm sáng tỏ tính khả thi của các đề xuất lập pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Dữ liệu thống kê về sự phát triển của doanh nghiệp DVMT tại Việt Nam được luận án tổng hợp như sau:

Giai đoạn / Mốc thời gian Lĩnh vực xử lý nước thải Lĩnh vực thu gom & xử lý chất thải rắn Tổng số doanh nghiệp DVMT Ghi chú tăng trưởng
Năm 2007 36 doanh nghiệp 270 doanh nghiệp - Khảo sát ban đầu
Năm 2010 153 doanh nghiệp 463 doanh nghiệp - Nước thải: DN tăng 62%/năm, lao động tăng 45%/năm, vốn tăng 78%/năm. Rác thải: DN tăng 20%/năm, lao động tăng 8%/năm, vốn tăng 36%/năm
2006 – 2012 - - 3.581 doanh nghiệp thành lập mới Riêng giai đoạn 2006 – 2009 có 2.321 doanh nghiệp thành lập
Cuối năm 2012 - - 3.982 doanh nghiệp Khảo sát của Tổng cục Môi trường
Năm 2019 - - 4.938 doanh nghiệp Theo số liệu thống kê ngành môi trường

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu pháp luật về dịch vụ môi trường

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến DVMT, phân loại theo bốn hướng tiếp cận: tổng quan dịch vụ công/thị trường DVMT, góc độ chính sách/chiến lược, góc độ pháp lý và các phân ngành dịch vụ cụ thể. Tác giả chỉ ra các điểm còn bỏ ngỏ của các nghiên cứu trước đó.

Chương này xác định các câu hỏi nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu và luận giải chi tiết 9 học thuyết nền tảng (kinh tế học vĩ mô, kinh tế học phúc lợi, lý thuyết Pigou, chi phí giao dịch, cân bằng Lindahl, lý thuyết tự do hợp đồng của Pound, Fried, Dagan & Heller, kinh tế học pháp luật). Khung phân tích của luận án kết nối các yếu tố lý luận, thực trạng quy định, thực tiễn thực hiện và các biến số kinh tế - xã hội làm cơ sở cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Lý luận về dịch vụ môi trường và về pháp luật dịch vụ môi trường

Chương 2 phân tích các chuẩn mực quốc tế và lý luận pháp lý về DVMT:

  • Tiếp cận theo GATS (WTO): Xác định DVMT theo phương pháp liệt kê và loại trừ căn cứ vào Danh mục phân ngành dịch vụ W/120 và Hệ thống CPC của Liên Hợp Quốc:
    • Dịch vụ nước thải (CPC 9401): Xử lý nước thải đưa trở lại môi trường; không bao gồm thu gom, làm sạch và phân phối nước (CPC 18000) và xây dựng cống thoát nước (CPC 51330).
    • Dịch vụ rác thải (CPC 9402): Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn; không gồm buôn bán phế liệu (CPC 62118, 62278) hay nghiên cứu môi trường (CPC 85).
    • Dịch vụ vệ sinh và tương tự (CPC 9403/9402): Quét dọn ngoài trời, làm sạch tuyết; không gồm vệ sinh tòa nhà (CPC 87401) hoặc diệt sâu bệnh nông nghiệp (CPC 88110).
    • Các DVMT khác: Làm sạch khí thải (CPC 9404), giảm tiếng ồn (CPC 9405), bảo vệ thiên nhiên/cảnh quan (CPC 9406) và DVMT khác (CPC 9409).
  • Tiếp cận theo OECD và EUROSTAT (1999): Định nghĩa ngành công nghiệp môi trường gồm hàng hóa và DVMT nhằm đo lường, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm, chia thành 3 nhóm: Quản lý ô nhiễm, Công nghệ làm sạch và Quản lý tài nguyên (phân định rõ hoạt động hạt nhân và phi hạt nhân như tư vấn, giám sát, phân tích).
  • Khái niệm và phân loại DVMT theo pháp luật Việt Nam: Phân loại dựa trên 4 tiêu chí: (i) Đối tượng của dịch vụ; (ii) Chủ thể cung ứng; (iii) Chủ thể sử dụng; (iv) Hình thức và mức độ can thiệp của Nhà nước.
  • Lý luận về pháp luật DVMT: Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguồn pháp luật và 5 yêu cầu xây dựng: phù hợp quy luật kinh tế thị trường, huy động tối đa nguồn lực xã hội, bảo đảm cung ứng đầy đủ kịp thời, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và công khai.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về dịch vụ môi trường ở Việt Nam

Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng hệ thống quy định và áp dụng pháp luật tại Việt Nam trên 5 phương diện:

  1. Chủ thể cung ứng DVMT: Quy định về mô hình tổ chức, loại hình doanh nghiệp, điều kiện hoạt động và cơ chế lựa chọn đơn vị cung ứng qua đấu thầu, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ.
  2. Giá dịch vụ môi trường: Hoạt động xác định cơ cấu giá dịch vụ, thẩm quyền định giá và cơ chế thực hiện trợ giá, hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước.
  3. Quản lý chất lượng dịch vụ: Điều kiện đầu tư kinh doanh ngành nghề DVMT; điều kiện năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất; cơ chế giám sát thực thi thông qua xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự và kiểm tra, thanh tra chuyên ngành.
  4. Ưu đãi, hỗ trợ đối với DVMT: Quy định về đối tượng thụ hưởng; các hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, hỗ trợ lãi suất vay vốn; tính công khai, minh bạch và rào cản trong tiếp cận chính sách trên thực tế.
  5. Hợp đồng trong cung ứng và sử dụng DVMT: Khung pháp lý điều chỉnh hợp đồng đối tác công tư (PPP) trong các dự án hạ tầng môi trường và hợp đồng dịch vụ thương mại giữa doanh nghiệp cung ứng với khách hàng sử dụng dịch vụ.

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ môi trường

Chương 4 đưa ra quan điểm, mục tiêu và 6 nhóm giải pháp hoàn thiện:

  1. Xác định mã ngành DVMT: Hoàn thiện danh mục phân ngành kinh tế quốc dân tương thích với chuẩn mực quốc tế (CPC, WTO).
  2. Hoàn thiện quy định về chủ thể cung ứng: Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, chuẩn hóa quy trình lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ công ích.
  3. Hoàn thiện quy định về giá DVMT: Xác lập nguyên tắc định giá theo cơ chế thị trường, tính đúng tính đủ chi phí gắn với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; minh bạch cơ chế trợ giá.
  4. Tăng cường quản lý chất lượng dịch vụ: Hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật, điều kiện kinh doanh và tăng cường chế tài hành chính, hình sự đối với hành vi vi phạm tiêu chuẩn xả thải.
  5. Đổi mới chính sách ưu đãi, hỗ trợ: Chuyển trọng tâm từ ưu đãi trực tiếp về lợi nhuận (miễn, giảm thuế cho nhà đầu tư) sang hỗ trợ mở rộng quy mô thị trường thông qua kích cầu sử dụng dịch vụ, hỗ trợ người tiêu dùng/chủ nguồn thải, giúp doanh nghiệp đạt quy mô kinh tế tối ưu và tăng tỷ suất lợi nhuận cận biên.
  6. Hoàn thiện chế định hợp đồng: Chuẩn hóa mẫu hợp đồng dịch vụ môi trường và hoàn thiện quy chế chia sẻ rủi ro trong hợp đồng dự án PPP.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Xây dựng khung lý thuyết pháp luật về DVMT trên cơ sở tiếp cận kinh tế học pháp luật, kết hợp lý thuyết Pareto, Pigou, Keynes và lý thuyết tự do hợp đồng.
  • Làm rõ bản chất giao thoa (inter-sectoral) của DVMT, phân định rõ ranh giới giữa hoạt động hạt nhân và phi hạt nhân theo chuẩn mực quốc tế của WTO/GATS, OECD/EUROSTAT và đối chiếu với thực tiễn lập pháp tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Phân tích các nút thắt trong thực tiễn áp dụng pháp luật về DVMT tại Việt Nam, đặc biệt là tình trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số, thiếu cơ chế tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và sự bất cập trong vai trò quản lý nhà nước.
  • Xác định rõ vai trò kép của Nhà nước: vừa là cơ quan quản lý quyền lực công, vừa là chủ thể tham gia cung ứng và tiêu dùng DVMT.
  • Đề xuất định hướng lập pháp mới: Chuyển dịch chính sách ưu đãi từ phía cung (hỗ trợ lợi nhuận doanh nghiệp) sang phía cầu (kích cầu người sử dụng DVMT), tạo điều kiện cho thị trường tự vận hành theo quy mô tối ưu và hạn chế nguy cơ trục lợi chính sách ưu đãi thuế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Dữ liệu thực tiễn và các quy định pháp luật được khảo sát tập trung chủ yếu từ mốc phê duyệt Chiến lược BVMT quốc gia (tháng 9/2012) đến năm 2023.
  • Về luật học so sánh, luận án chủ yếu tập trung vào các cam kết WTO/GATS, OECD và kinh nghiệm của Hoa Kỳ, chưa mở rộng so sánh toàn diện với tất cả các hệ thống pháp luật khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thực tiễn của Luật BVMT 2020 cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành khi được triển khai đầy đủ trên toàn quốc.
  • Mở rộng nghiên cứu khung pháp lý cho các phân ngành DVMT mới xuất hiện gắn với kinh tế tuần hoàn, thị trường trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, sửa đổi danh mục mã ngành kinh tế, hoàn thiện cơ chế định giá dịch vụ công ích môi trường, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Luật: Cung cấp khung lý thuyết liên ngành kinh tế học pháp luật và phương pháp phân tích quy phạm trong lĩnh vực môi trường và kinh tế.
  • Doanh nghiệp và nhà đầu tư trong ngành DVMT: Làm rõ các điều kiện kinh doanh, thủ tục pháp lý, quy chế hợp đồng PPP và các quyền lợi hợp pháp trong quá trình tham gia thị trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Biểu cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, những phân ngành dịch vụ môi trường nào được mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài?
Việt Nam cam kết mở cửa 4 phân ngành dịch vụ môi trường cụ thể: (1) Dịch vụ xử lý nước thải (CPC 9401); (2) Dịch vụ xử lý rác thải (CPC 9402); (3) Dịch vụ xử lý tiếng ồn (CPC 9404); (4) Dịch vụ đánh giá tác động môi trường (CPC 9409).

2. Phân loại dịch vụ môi trường của OECD và EUROSTAT gồm những nhóm nào?
Gồm 3 nhóm chính: Nhóm quản lý ô nhiễm (kiểm soát ô nhiễm không khí, xử lý nước thải, quản lý chất thải rắn, cải tạo đất...), Nhóm công nghệ làm sạch (thiết kế quy trình/sản phẩm mới giảm phát thải) và Nhóm quản lý tài nguyên, được cấu thành từ các hoạt động hạt nhân và phi hạt nhân.

3. Tại sao dịch vụ cấp nước sạch và xây dựng cống thoát nước không thuộc nhóm DVMT theo GATS?
Theo hệ thống phân loại của GATS (W/120), dịch vụ thu gom, làm sạch và phân phối nước (CPC 18000) thuộc lĩnh vực sản xuất và cung ứng hàng hóa nước sạch; còn việc xây dựng, sửa chữa cống thoát nước (CPC 51330) được xếp vào phân ngành dịch vụ xây dựng và thiết kế có liên quan.

4. Luận án đề xuất thay đổi căn bản nào trong chính sách ưu đãi, hỗ trợ dịch vụ môi trường?
Luận án đề xuất chuyển từ cơ chế ưu đãi trực tiếp vào lợi nhuận của chủ đầu tư (như miễn, giảm thuế) sang cơ chế hỗ trợ thị trường thông qua kích cầu người sử dụng dịch vụ. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đạt mức tối ưu chi phí và hạn chế trục lợi chính sách.

5. Lý thuyết tự do hợp đồng được vận dụng trong luận án gồm những thành tố nào?
Theo quan điểm của Hanoch Dagan và Michael Heller được luận án kế thừa, lý thuyết tự do hợp đồng gồm 3 thành tố: nguyên tắc tự nguyện, tự do thỏa thuận các điều khoản hợp đồng và tự do lựa chọn loại hợp đồng để giao kết.


Kết luận

Luận án "Pháp luật về dịch vụ môi trường ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Hoàng Thùy Trang là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế. Bằng việc kết hợp phương pháp luật học truyền thống với nguyên lý kinh tế học pháp luật, công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, hệ thống hóa chuẩn mực quốc tế và đánh giá thực trạng quy định pháp luật về DVMT tại Việt Nam. Các giải pháp do luận án đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện mã ngành, cơ chế định giá, quản lý chất lượng, chế định hợp đồng và đổi mới phương thức ưu đãi thị trường, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mục tiêu phát triển bền vững.