Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu nguồn nước lưu vực sông với tư cách là đối tượng đặc thù của bảo vệ môi trường. Tình hình nghiên cứu trong nước Nguồn nước lưu vực sông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển và đời sống của các quốc gia, các cộng đồng lưu vực sông.
Bên cạnh những giá trị to lớn đối với các quốc gia, các cộng đồng sống ở lưu vực sông, nguồn nước lưu vực sông với khả năng lan tỏa nhanh luôn chứa đựng những nguy cơ lớn như ngập lụt, ô nhiễm toàn vùng khi có những sự cố thiên tai hay hành động bất cẩn của con người. Chính vì vậy, bảo vệ nguồn nước lưu vực sông luôn là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của bảo vệ môi trường ở các quốc gia có LVS. Bảo vệ môi trường nước lưu vực sông đòi hỏi những phương thức đặc thù, những thiết chế đặc thù. Trong đó, có quản lý tổng hợp LVS.
Những phương thức, và thiết chế này luôn là đối tượng nghiên cứu của khoa học môi trường, khoa học quản lý và khoa học pháp lý. LVS được coi là một thể thống nhất, có những tác động qua lại giữa các nguồn tài tài nguyên khác nhau như nước, đất, rừng, các HST. Trong đó, nước là yếu tố quan trọng nhất cần được chú trọng bảo vệ. Việc khai thác và sử dụng lưu vực sông, đặc biệt là nguồn nước luôn làm phát sinh các quan hệ xã hội và phần lớn được điều chỉnh bằng pháp luật.
BVMT nước LVS như việc bảo vệ một thực thể nhằm đáp ứng được yêu cầu PTBV trên LVS. Như vậy, BVMT nước LVS là hoạt động gắn với các quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và các hoạt động nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nhằm bảo đảm CLN trên LVS cũng như các quá trình liên quan trong một LVS. Bốn trụ cột cần phải tạo dựng trong BVMT nước LVS đó là: - Tạo dựng một môi trường chính sách phù hợp và thuận lợi. - Xây dựng pháp luật phù hợp và đủ mạnh để thực thi nhiệm vụ quản lý.
- Xây dựng và sử dụng các công cụ hỗ trợ hiệu quả, các chế tài đủ sức răn đe để BVMT nước LVS. - Thiết lập mô hình Ủy ban LVS với cơ cấu, chức năng nhiệm vụ đủ mạnh để hoạt động hiệu quả. Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ (NC&KH) cấp Nhà nước, cấp bộ về khai thác sử dụng, quản lý và bảo vệ TNN, 8 luan an BVMT nước các LVS. Chương trình KC.12 về cân bằng nước trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Kết quả của chương trình đã góp phần phát triển các phương pháp tính toán, tổng hợp được nhiều quy luật cân bằng nước phục vụ cho phát triển kinh tế của từng tỉnh, từng LVS trên tất cả các vùng của đất nước. Nhiều đề tài cấp Nhà Nước và cấp Bộ về nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cho QLTHTNN, khả năng chịu tải và tự làm sạch của LVS; quản lý bảo vệ tài nguyên, môi trường các LVS lớn ở nước ta thực hiện. (i) Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam hợp tác khoa học với Cơ quan nghiên cứu khoa học Pháp và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2005): Nghiên cứu và triển khai dự án quan trắc và khảo sát môi trường nước LVS Đáy. Dự án có được cơ sở dữ liệu, thực hiện mô hình hoá chuyển tải các chất dinh dưỡng trong môi trường nước sông Đáy thông qua việc nghiên cứu chất lượng nước hệ thống sông Đáy, lấy trọng điểm là nghiên cứu mức độ ô nhiễm dinh dưỡng.
Ứng dụng mô hình toán học mô phỏng chất lượng nước sông Đáy. Các kết quả thu được sẽ góp phần vào việc đánh giá chất lượng môi trường nước hệ thống sông Đáy - Nhuệ và làm cơ sở dữ liệu cho việc xử lý nguồn ô nhiễm, bảo vệ và quản lý nguồn nước có hiệu quả ở Việt Nam [28]. (ii) Nguyễn Thị Việt Nga trong Luận văn thạc sĩ (2012): Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật đất ngập nước của sông Nhuệ - Đáy (phần chảy qua tỉnh Hà Nam) và khả năng sử dụng chúng để xử lý ô nhiễm môi trường. Luận văn đã đánh giá hiện trạng ĐDSH của thực vật đất ngập nước LVS Nhuệ, sông Đáy (phần chảy qua tỉnh Hà Nam) và giá trị sử dụng của chúng.
Tìm hiểu khả năng sử dụng một số loài thực vật đất ngập nước trong việc xử lý ô nhiễm môi trường nước. Định hướng một số mô hình cho việc xử lý ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ, sông Đáy [17]. (iii) Lê Huy Bá (2013), sách chuyên khảo về khả năng chịu tải HST môi trường LVS Vàm Cỏ được trích dẫn từ đề tài cấp nhà nước KC.28 năm 2010 do Lê Huy Bá làm chủ nhiệm đã nghiên cứu đánh giá hiện trạng ô nhiễm, đánh giá khả năng chịu tải của hệ sinh thải LVS Vàm Cỏ phục vụ cho quy hoạch các cụm công nghiệp (CCN), rửa phèn, ngăn mặn, phục vụ quy hoạch nông lâm thủy sản và phát triển khu dân cư đến năm 2025. Trên cơ sở đó đã đề xuất các giải pháp khả thi nhằm bảo vệ HST môi trường LVS Vàm Cỏ [13].
(iv) Nguyễn Minh Lâm (2013) trong Luận án tiến sĩ của mình đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng chịu tải và đề xuất các giải pháp bảo vệ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Long An. Luận án đã đánh giá được tải lượng ô nhiễm với 9 luan an các kịch bản khác nhau do nước thải từ các nguồn ô nhiễm phân tán đến năm 2015 và năm 2020 dựa trên phương pháp mô hình hóa bằng phần mềm MIKE11, từ đó đánh giá được khả năng chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông - đoạn chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An theo các kịch bản (hiện trạng, đến năm 2015, 2020). Luận án cũng đã đề xuất được các biện pháp quản lý tổng hợp và đồng bộ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông - đoạn chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An bao gồm các giải pháp công nghệ và phi công trình, cơ chế quản lý sông Vàm Cỏ Đông với công việc và quyền hạn để thực hiện các chương trình và dự án nhằm bảo vệ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông [18]. (v) Đề tài chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước về nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và xây dựng giải pháp phòng chống “Đề tài nhánh số 2 Điều tra hiện trạng hệ thống nguồn nước, nhu cầu dùng nước và các giải pháp phòng chống hạn đã áp dụng ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên” [1]; (vi) Đề tài của Nguyễn Văn Hạnh (2010): Nghiên cứu xác định dòng chảy môi trường của hệ sông Hồng - sông Thái Bình và đề xuất các giải pháp duy trì dòng chảy môi trường phù hợp với các yêu cầu phát triển bền vững TNN - Xác định dòng chảy môi trường đến giai đoạn 2020 cho hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình.
Đề tài đã xác định dòng chảy môi trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình. Trình bày kết quả tính toán mô phỏng chất lượng nước và xâm nhập mặn. Đề xuất dòng chảy môi trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình [15]. (vii) Nguyễn Hữu Huế, Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi.
Trong tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên (2013) đã công bố đề tài nghiên cứu giải pháp công trình lấy nước tự chảy cho sông Đáy, sông Nhuệ và sông Tô Lịch. Do tình trạng khan hiếm nước vào mùa khô diễn ra ở tất cả các hệ thống sông trên địa bàn Tp. Hà Nội, nhất là LVS Đáy và sông Nhuệ. Nên đề tài đã đưa ra cơ sở, luận chứng về đề xuất và lựa chọn phương án tuyến công trình dẫn nước tự chảy theo 2 phương án: Phương án 1 là tuyến công trình dựa trên nền tảng kế thừa, sử dụng phát huy các tuyến công trình thủy lợi, hệ thống thủy nông đã có sẵn nhằm giảm được chi phí đầu tư, công tác quản lý vận hành, giúp tiết kiệm tối đa nhân vật lực, tiền của và đặc biệt thuận lợi trong công tác giải phóng mặt bằng.
Phương án 2 là Trục phát triển kinh tế Tây Thăng Long – Hà Nội [92]. (viii) Đặc biệt là chương trình khoa học, công nghệ trọng điểm cấp nhà nước KC.08/06-10 thực hiện đề tài Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khơi thông dòng chảy, tăng khả năng chịu tải và tự làm sạch các sông để BVMT sông Nhuệ, sông Đáy do Trần Đình Hợi (năm 2010, mã số đề tài KC. Đề tài đã đánh giá về nguồn 10 luan an nước, hiện trạng, diễn biến, tác động của môi trường nước, các công trình tiêu thoát nước, lòng dẫn trên LVS; tính toán, xác định các nguồn gây ô nhiễm trên toàn lưu vực; khả năng làm sạch và ngưỡng chịu tải; thiết lập, tính toán mô hình thủy lực, chất lượng nước và truyền chất; đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện môi trường nước LVS Nhuệ - sông Đáy, kịch bản phát triển chiến lược của vùng. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý quy hoạch môi trường kết nối hệ thống thông tin GIS cho hệ thống sông Nhuệ và sông Đáy [16].
(ix) Đề tài cấp nhà nước KC.25 của Nguyễn Văn Cư (2001-2005): Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT LVS Ba và sông Côn. Đề tài đã đánh giá hiện trạng, đưa ra các nguyên nhân, dự báo suy thoái các nguồn nước tài nguyên thiên nhiên và môi trường LVS Ba và sông Côn. Trên cơ sở đó đã đề xuất các giải pháp tổng thể, sử dụng công nghệ viễn thám, công nghệ GIS để quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, BVMT LVS Ba và sông Côn [9]; (x) Đề tài KC.04 (2001-2005): Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý tổng hợp TN&MT LVS Đà do Nguyễn Thanh Trung làm chủ nhiệm đã tiến hành các nghiên cứu cơ bản về các nguồn TN&MT trên LVS Đà, phân tích đánh giá hiện trạng và dự báo diễn biến các thành phần TN&MT dưới tác động của các phương án phát triển KT-XH. Tổng hợp giữa lý luận và thực tiễn để xây dựng phương pháp luận về quản lý tổng hợp LVS, phân tích đánh giá các mô hình hiện đang được áp dụng trong nước và một số mô hình của nước ngoài để đề xuất mô hình quản lý thích hợp đối với các tiểu lưu vực và LVS Đà [30].
Mô hình tổ chức lưu vực sông Đà, được coi là giải pháp ".