CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE PHI BẢO VE MOI TRƯỜNG 1. Khái niệm phi bao vệ môi trường 1. Khai niệm phi bảo vệ môi trường Theo quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 thì “phi la khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một t6 chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ theo quy định trong danh mục phí được ban hành kèm theo Pháp lệnh ”. Như vay, việc đóng phí của các tô chức, cá nhân chỉ phải thực hiện khi họ nhận được sự cung ứng một dịch vụ từ một chủ thể khác.
Tiền phí sẽ tương ứng với tính chất, mức độ của dịch vụ được cung ứng. Theo Giáo trình Luật tài chính (ĐH Luật Hà Nội), phí là “khoản thu của Ngân sách Nhà nước nhằm bù đắp một phan khoản chi đầu tư, bảo dưỡng các công trinh công cộng và duy trì các hoạt động của Nhà nước” [42, tr.58] Phí là khoản đóng góp bắt buộc là vì Nhà nước chi ngân sách vào các công trình công cộng, dịch vụ công cộng. nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân, do vậy nhân dân phải đóng góp cho Nhà nước dé bù đắp lại một phan chi phí mà Nhà nước đã chi ra, và cũng là để bố sung cho nguồn ngân sách Nha nước dé tiếp tục đầu tư vào các công trình khác. Mức thu phí do Nhà nước quy định, tuỳ thuộc vào chính sách động viên, đóng góp với từng khoản thu, không căn cứ trên nguyên tắc hoạch toán kinh phí.
Trước tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như hiện nay thì yêu cầu về quản lí và BVMT càng trở nên bức thiết, can có những công cụ hiệu quả để tăng cường quản lí và BVMT. Ở nước ta hiện nay, phí BVMT được coi là một trong các công cụ kinh tế hữu hiệu và là một bước tiễn hết sức quan trọng trong công tác quản lí và BVMT. Điều 113 Luật BVMT năm 2005 quy định “T6 chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguôn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí BVMT. Mức phí BVMT được quy định trên cơ sở sau đây:a) Khối lượng chất thải ra môi trường, quy mô ảnh hưởng tác 8 động xấu doi với môi trường;b) Mức độ độc hai của chất thải, mức độ gây hại đổi với môi trường;c) Sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thai.” Từ quy định trên, có thé xác định phí BVMT có những tính chất sau: Thứ nhất, chủ thê nộp phí BVMT theo quy định là tat cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường.
Phí BVMT mà các tổ chức, cá nhân phải nộp thực chất là số tiền họ phải đóng cho Nhà nước dé nhận lay Sự cung cấp dịch vụ từ phía Nhà nước, đó là những hoạt động nhằm bảo vệ và đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi họ xả thải mà đáng lẽ ra những hoạt động này phải do chính các chủ thé xả thải phải thực hiện, nhưng Nhà nước đã đứng ra thực hiện thay cho họ. Thứ hai, đôi tượng chịu phí BVMT là các chất thải như nước thai, CTR, hoặc là các yếu tố vật chất là đối tượng tác động của các hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường như các loại khoáng sản kim loại, dầu thô, khí thiên nhiên.trong hoạt động khai thác khoáng sản. Thứ ba, mức thu phí BVMT phải dựa trên các yêu tố sau đây: - Khối lượng chất thải, quy mô ảnh hưởng tác động xấu đến môi trường khác nhau cho nên mức thu phí phải có sự phân hóa giữa chủ thể xả thải số lượng khác nhau. Bởi lẽ trên thực tế ta dễ dàng nhận thay khối lượng chất thải càng nhiều thì nguy cơ gây ra tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường càng lớn.
Hon nữa, khối lượng chat thải lớn thì chi phí xử lý có thé tăng theo. Trong quy định về mức thu phí BVMT đối với CTR là dựa trên khối lượng đơn vị tan, mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp dựa trên tong lưu lượng nước thải và hàm lượng các chất gây ô nhiễm. Việc thu phí BVMT dựa trên khối lượng xả thải buộc các tổ chức, cá nhân xả thải phải tìm biện pháp giảm tổng khối lượng xả thải, giảm các tác nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường. - Mức thu phí BVMT phải dựa trên mức độ độc hại; mức độ gây hại tới môi trường: nhằm đảm bao sự công bằng giữa các đối tượng nộp phí và buộc các chủ thé xả thải phải áp dụng công nghệ để xử lý, giảm thiểu độ độc hại có trong 9 chat thai.
Thuc tién cho thay cac nha may, co so san xuất ở các lĩnh vực đặc thu, ngành nghề khác nhau thì thải chất thải ra môi trường sẽ có tính chất, mức độ độc hại khác nhau. Ví dụ khi quy định về phí BVMT đối với nước thải thì nước thải chứa các chất ô nhiễm nồng độ càng lớn thì mức phí áp dụng càng cao. Để thực hiện nguyên tắc trên việc thu phí BVMT phải đảm bảo số tiền phí mà chủ thê xả thải phải trả phải tương ứng với mức độ tác động xấu đến môi trường, số phí này cũng phải đủ sức tác động tới lợi ích cũng như hành vi của các chủ thể, dé các chủ thé này hạn chế việc xả thải. Nếu mức phi quá thấp sẽ không tao ra động lực thay đổi hành vi, nếu mức phí quá cao có thể làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm, lợi ich DN bị giảm đi, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
- Ngoài ra, mức thu phí BVMT cũng dựa trên cơ sở sức chịu tải của môi trường hay dựa vào môi trường tiếp nhận các chất gây ô nhiễm. Sức chịu tải của môi trường là giới hạn cho phép ma môi trường có thé tiếp nhận và hap thụ các chất gây ô nhiễm. Trong quy định về phí BVMT đối với nước thải áp dụng đối với môi trường là các khu vực nội thành, nội thị của các đô thị loại đặc biệt loại I, II, III thì mức phí sẽ cao hơn khi thải ra các môi trường tiếp nhận là đô thị loại IV, V, rồi đến khu vực ngoại thành, vùng sâu, vùng sa. Bởi vì ở các đô thị loại đặc biệt thì dân cư đông đúc hơn rất nhiều so với khu vực khác, đồng thời cũng là trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội của cả nước nên việc gây ô nhiễm môi trường ở những đô thị này nguy hiểm hơn những vùng khác.
Vì vậy sức chịu tải môi trường khác nhau thì sẽ có mức thu phí BVMT khác nhau. Nhu vậy, chúng ta có thé đưa ra khái niệm về phí BVMT như sau: “Phi BVMT là khoản tiền mà tổ chức, hộ gia đình xả thai ra môi trường hoặc có hoạt động lam phát sinh nguon tác động xấu đổi với môi trường phải nộp vào ngân sách nhà nước nhằm đấu tư lại vào hoạt động BVMT `. Đặc điểm của phí bảo vệ môi trường - Phí BVMT là một trong những công cụ kinh tế trong quản lí và BVMT: Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vao thị trường là các công cụ chính 10 sach duoc su dung nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường [10, tr.284-285] Phí BVMT được coi là công cụ kinh tế hữu hiệu trong kiểm soát ô nhiễm vì nó có tác dụng điều chỉnh hành vi của người xả thải: người xả thải phải chi trả một khoản tiền nhất định cho mỗi đơn vị chất gây ô nhiễm, nồng độ càng cao thì số phí phải nộp cảng lớn. Ngược lại, nếu chủ thé xả thải giảm lượng chất thải cũng như hàm lượng chất gây ô nhiễm trong chất thải khi xả ra môi trường thì số phí phải nộp sẽ ít đi.
Như vậy, mục đích của việc áp dụng phí BVMT là khuyến khích giảm các tác nhân gây ô nhiễm, giảm thiểu lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường và tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước dé sử dụng cho việc khôi phục cải thiện chất lượng môi trường. - Phí BVMT được thu dựa trên 2 nguyên tắc chính là: Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle viết tắt là PPP) và Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền (Benefit Pays Principle viết tắt là BPP). Hai nguyên tắc này tác giả xin phân tích kỹ hon ở phan 1.1 cơ sở lý luận của việc thu phí BVMT. - Phi BVMT góp phan làm giảm 6 nhiễm và tao nguôn thu để tải dau tư vào cho công tác BVMT.
Việc thu phí BVMT tạo ra tác động tới hành vi của DN, bởi vi DN càng xả nhiều chất độc hại ra môi trường càng phải nộp phí nhiều, để không phải nộp nhiều phí, DN phải cắt giảm lượng thải xả trực tiếp ra môi trường. Điều này cho thấy phí BVMT góp phần làm giảm ô nhiễm, đồng thời số phí thu được sẽ được dùng cho các hoạt động xử lí, khắc phục thiệt hại từ chất thải và các hoạt động BVMT khác. Việc thu phí BVMT có thé bù đắp một phan chi phí thường xuyên và không thường xuyên cho việc duy trì, bảo vệ và cải thiện các thành phần môi trường, giữ gin sự cân băng sinh thái và các chi phí khác vê tô chức và quản lí lãi phục vụ cho van đề BVMT. Khoản 4 Điều 113 Luật BVMT 2005 quy định toàn bộ nguôn thu từ phi BVMT được sử dụng dau tư trực tiếp cho việc BVMT.
Phân loại phí bảo vệ môi trường Trên thực tế phí BVMT được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau, tùy thuộc vào mục tiêu và đối tượng gây 6 nhiễm. Hiện nay trên thé giới đa số các nước chia thành các loại phí sau đây: phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm; phí đánh vào sản phẩm; phí đánh vào người sử dụng. [46] + Phí đánh vào nguon gây ô nhiễm là phí phải trả cho việc thải các chất thải gây ô nhiễm vào trong môi trường (nước, không khí, đất.) người xả thải phải trả tiền cho mỗi don vị xả thải, nghĩa là đánh trên hàm lượng hay nông độ các chất gây ô nhiễm và khối lượng xả thai. Nhu vậy dé tránh phải đóng loại phí này chủ thê xả thải sẽ hạn chế việc xả thải các chất thải ra môi trường; hướng tới hành vi thân thiện với môi trường.