Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tại tỉnh Vĩnh Phúc Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm, vai trò của bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng, đáp ứng nguyện vọng đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho mỗi quốc gia hỗ trợ, thúc đẩy hội nhập quốc tế.
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam(2017): “BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già, tàn tật và chết đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đai, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết” Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 đã định nghĩa BHXH một cách khái quát, toàn diện.
"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội". Khái niệm BHXH theo Luật BHXH năm 2014 được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của luận văn. 7 BHXH không chỉ bao gồm việc đáp ứng những nhu cầu phát sinh khi lâm vào tình trạng khó khăn túng thiếu, mà trước hết nó nhằm phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời giúp đỡ cho cá nhân và gia đình có được sự tự điều chỉnh tốt nhất khi họ đối mặt với sự đau ốm, tàn tật và những hoàn cảnh khó khăn khác không thể ngăn ngừa được. Vì vậy, BHXH yêu cầu không chỉ tiền mặt, mà còn là những dịch vụ xã hội, dịch vụ y tế với một phạm vi rộng lớn.
Vai trò của bảo hiểm xã hội - BHXH phòng ngừa rủi ro, ổn định cuộc sống cho NLĐ: Khi còn sức lao động, còn khả năng lao động, NLĐ tham gia quan hệ lao động, được hưởng lương và mang lại lợi nhuận cho NSDLĐ. Vì vậy, khi họ không còn khả năng lao động nữa hoặc khi họ bị suy giảm khả năng lao động thì NSDLĐ phải có một phần trách nhiệm đối với họ. Đối tượng của BHXH là người lao động nói chung, BHXH ở nước ta áp dụng đối với người lao động làm công ăn lương, cán bộ, công chức và một số đối tượng khác. - BHXH là “tấm lá chắn”, “lưới an toàn” của xã hội với chế độ trợ cấp đa dạng, toàn diện, ổn định: Các nguyên nhân gây ra rủi ro rất nhiều nên nhu cầu bảo hiểm xã hội của các thành viên trong xã hội cũng rất đa dạng.
Vì vậy, để đáp ứng được các nhu cầu ấy, các hoạt động bảo hiểm xã hội cũng phải được đa dạng hóa. Nghĩa là cần đảm bảo sao cho các chế độ bảo hiểm xã hội phải thực sự là “tấm lá chắn”, là “lưới an toàn” của xã hội. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng dù sao các chế độ trợ giúp, các mức trợ cấp cũng phải trên cơ sở nhu cầu thực tế và không thể thoát ly được khả năng và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn. - Cụ thể hóa “công bằng xã hội”: Đặc điểm “hưởng thụ theo đóng góp” trong luật bảo hiểm xã hội chính là sự cụ thể hóa “công bằng xã hội” bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống.
“Hưởng thụ theo đóng góp” trong bảo hiểm xã hội không hoàn toàn giống nhau như áp dụng “phân phối theo lao động” trong luật lao động. Đặc điểm này thường được thể hiện trong việc thực hiện trợ cấp 8 bảo hiểm xã hội đối với người lao động căn cứ vào mức độ, thời gian đóng góp của họ vào quỹ trợ cấp. Người hưởng bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp để hình thành Quỹ BHXH. Với tư cách là người tổ chức, thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nước có trách nhiệm bảo trợ cho quỹ để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đã được Nhà nước quy định.
Pháp luật về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm Bảo hiểm là một trong những phương pháp, công cụ hữu ích có vai trò quan trọng nhằm giúp con người phòng ngừa và vượt qua được những trở ngại rủi ro trong cuộc sống. Ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội được biết đến từ rất sớm và được xem là một trong những công cụ đắc lực trợ giúp cho người lao động trang trải khi gặp những biến cố đột xuất xảy ra trong cuộc sống, bằng cách sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình quân do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc khi chết.
Pháp luật về BHXH là hệ thống các quy tắc xử sự chứa đựng trong Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, quy định các chế độ, chính sách BHXH, quyền và trách nhiệm của NLĐ, của cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia BHXH, tổ chức BHXH, quỹ BHXH, thủ tục thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH. Pháp luật về BHXH gắn liền với pháp luật về lao động truyền tải các chính sách chủ yếu mang tính bắt buộc. BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước, được áp dụng cho mọi NLĐ. Tuy nhiên, BHXH lại có tính bắt buộc đối với một số đối tượng lao động nhất định và đây là một trong những đặc trưng của quan hệ pháp luật về BHXH so với các quan hệ pháp luật khác.
Nhà nước, người chủ sở hữu cao nhất đồng thời là người chủ sử dụng lao động lớn nhất, người đại diện cho toàn xã hội thống nhất quản lý toàn bộ lĩnh 9 vực bảo hiểm xã hội. Nhà nước định ra các chính sách xã hội, ban hành hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội nhằm thể chế hóa các chính sách xã hội. Để thực thi có hiệu quả các văn bản pháp luật, Nhà nước thành lập hệ thống các cơ quan chức năng về bảo hiểm xã hội cũng như kiểm tra việc tổ chức, thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội của các cơ quan này. Đặc điểm của pháp luật bảo hiểm xã hội Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn triển khai BHXH ở các nước trên thế giới cho thấy pháp luật về bảo hiểm xã hội có những đặc điểm chủ yếu sau: - Hệ thống các chế độ BHXH được xây dựng và hoàn thiện theo các văn bản pháp luật của mỗi nước.
Mặc dù các công ước quốc tế đã quy định những nội dung cơ bản cho từng chế độ song để đi vào thực tế cuộc sống thì nội dung mỗi chế độ cần phải được cụ thể hóa chi tiết cả về mục đích, đối tượng, điều kiện, mức trợ cấp và thời gian trợ cấp BHXH. - Hệ thống pháp luật về BHXH đảm bảo phân tán rủi ro, san sẻ tài chính giữa người lao động với người lao động, giữa người lao động với người sử dụng lao động, và giữa những người sử dụng lao động với nhau. Đặc biệt điểm này biểu hiện khá rõ giữa những người khỏe mạnh với những người lao động bị ốm đau; giữa nam và nữ; giữa những ngành nghề nặng nhọc độc hại, nguy hiểm dễ xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp với những ngành nghề hoặc công việc bình thường; giauwx những người lao động có công an việc làm và thu nhập cao với những người lao động không may bị thất nghiệp. Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm xã hội 1.
Về đối tượng áp dụng Đối tượng được bảo hiểm thể hiện phạm vi của chính sách BHXH trong từng chế độ. Tùy theo từng loại chế độ mà đối tượng này có thể khác nhau. Có chế độ đối tượng được trợ cấp lại chính là bản than người lao động tham gia BHXH; có chế độ đối tượng trợ cấp là vợ(chồng), con cái, bố mẹ người lao động ( chế độ trợ cấp tiền tuất). Có chế độ đối tượng này nằm trong quá trình lao động( chế độ thai sản); có chế độ đối tượng trợ cấp lại nằm ngoài quá trình lao 10 động( trợ cấp hưu trí)… Xác định chính xác đối tượng được trợ cấp BHXH trong mỗi chế độ sẽ giúp cơ quan BHXH chi trả đúng đối tượng, đúng mục đích, hạn chế tối đa những hiện tượng nhầm lẫn và tiêu cực phát sinh.
Về chủ thể pháp luật bảo hiểm xã hội - Người lao động, đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao động, đại diện người sử dụng lao động Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội là người lao động và người sử dụng lao động. Trong đó, người lao động bao gồm công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, cán bộ công chức, viên chức nhà nước thuộc các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Ngoài ra, còn có người dân tham gia các loại hình bảo hiểm tự nguyện, các tổ chức xã hội hoạt động theo hình thức phi lợi nhuận.