Phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng với các nội dung sau : CHƢƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC NINH CHƢƠNG 3 : ĐỊNH HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI TỈNH BẮC NINH 5 CHƢƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Khái niệm và ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc. Một ngƣời muốn tồn tại và phát triển đầu tiên phải đƣợc đảm bảo các nhu cầu sống tối thiểu nhƣ đi lại, ăn ở, thời trang, học tập, giải trí… Nhằm thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, chúng ta phải lao động để tạo ra của cải và những nhu yếu phẩm cần thiết.
Nhƣng trong thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng chỉ gặp thuận lợi mà đôi khi sẽ có những trƣờng hợp gặp khó khăn, bất lợi làm cho họ bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, nhƣ: ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm hay tuổi già thì khả năng lao động bị suy giảm… Nếu ở những trƣờng hợp này, muốn duy trì cuộc sống, chúng ta đã tìm ra rất nhiều cách giải quyết khác nhau nhƣ vay mƣợn, đóng góp ủng hộ, xin… Bên cạnh những tác dụng trên, các biện pháp đó rất thụ động và có thểtạo ra thói quen dựa dẫm vào ngƣời khác của một số ngƣời. Sau này, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển thì mối quan hệ kinh tế giữa ngƣời lao động và giới chủ càng trở nên phức tạp, mâu thuẫn lợi ích giữa ngƣời lao động và giới chủ càng trở nên gay gắt. Ngƣời lao động thì muốn mình đƣợc bảo đảm càng ngày càng nhiều hơn và tốt hơn, còn ngƣời chủ lao động thì muốn mình phải chi ra ngày một ít hơn. Do đó, Nhà nƣớc với chức năng quản lý của mình phải có những biện pháp để can thiệp và điều tiết mâu thuẫn, yêu cầu giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đƣợc tính toán trên cơ sở tính trƣớc những rủi ro có thể xảy ra đối với ngƣời lao động.
Số tiền đóng góp đó tạo nên một quỹ tiền tệ tập trung, ngoài ra, quỹ này còn có thể đƣợc bổ sung từ ngân sách Nhà nƣớc khi cần thiết nhằm đảm bảo cho đời sống của những ngƣời lao động khi họ gặp sự cố, rủi ro. Chính nhờ vậy mà rủi ro, bất lợi của ngƣời lao động đƣợc dàn trải, chia sẻ. Từ đó, chính sách về bảo hiểm xã hội ra đời tạo lập một quỹ tài chính do chính những ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động đóng góp, đƣợc sử dụng chi trả cho ngƣời lao động khi họ gặp phải một số rủi ro nhất định. Bảo hiểm xã hội đem lại những ý nghĩa to lớn trong nhiều lĩnh vực của đời sống, xã hội, do đó, khái niệm bảo hiểm xã hội có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.
6 Dƣới góc độ kinh tế, bảo hiểm xã hội góp phần bảo vệ tài chính cho ngƣời lao động khi họ gặp những tình huống có thể ảnh hƣởng đến khả năng tài chính, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập. Có thể nói, BHXH là một một phầncủa GDP, đƣợc xã hội phân phối lại cho những cá nhân, tổ chức khi nảy sinh nhu cầu BHXH nhƣ ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết… Dƣới góc độ pháp lý: Chế độ bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định của pháp luật, do Nhà nƣớc ban hành, quy định vsƣề các hình thức đảm bảo về vật chất và tinh thần cho ngƣời lao động hoặc ngƣời thân trong gia đình ngƣời lao động khi họ bị mất toàn bộ hoặc giảm một phần một phần khả năng lao động. Dƣới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những ngƣời lao động xuất phát từ lợi ích chung của họ. Đồng thời, BHXH là sự chia sẻ, đóng góp của cả ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, do đó, BHXH cũng góp phần hài hòa nghĩa vụ, lợi ích giữa hai bên.
Dƣới góc độ xã hội, BHXH có thể hiểu theo nghĩa nhƣ là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho ngƣời lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay mất. Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lƣợng lao động xã hội, lực lƣợng sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trật tự xã hội1. Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế ILO : "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất toàn bộ hoặc giảm một phần khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc tạo nên, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên đóng bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo ổn định trong xã hội"2. Bảo hiểm xã hội đƣợc phân thành hai hình thức: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Trong đó bảo hiểm xã hội bắt buộc đƣợc bắt buộc áp dụng đối với một số đối tƣợng nhất định. Tuy nhiên, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều đặc biệt quyên tâm tới bảo hiểm xã hội bắt buộc bởi diện bao phủ của bảo hiểm xã hội bắt buộc rất rộng và có ý nghĩa quan trọng. Bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng ngày càng đƣợc bổ sung nhằm đảm bảo và khắc phục rủi ro cho ngƣời lao động. Mạc Tiến Anh, Khái luận chung về BHXH, Tạp chí BHXH số 01/2007.
2 Tổ chức Lao động Quốc tế 1952 , Công ƣớc số 102 về các chế độ BHXH đã đƣợc Tổ chức Lao động Quốc tế ILO thông qua ngày 28/06/1952 Quy phạm tối thiểu về ổn định trong xã hội. 7 Từ những phân tích trên, có thể đƣa ra khái niệm về bảo hiểm xã hội bắt buộc: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức, thực hiện mà một số đối tượng là người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia theo quy định của pháp luật. Đặc trƣng của bảo hiểm xã hội bắt buộc đƣợc thể hiện ở các điểm sau: - Đối tƣợng tham gia mang tính bắt buộc: dựa vào quy định pháp luật về BHXH, những đối tƣợng nào có nghĩa vụ phải tham gia BHXH bắt buộc thì phải tham gia BHXH mà không phụ thuộc vào ý chí của họ có muốn tham gia hay không cũng nhƣ thay thế bằng các hình thức khác. Việc tham gia BHXH của những đối tƣợng này là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ đối với họ, nếu không tham gia thì NLĐ và NSDLĐ sẽ phải chịu biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
Trên thực tế trong xã hội không phải đối tƣợng nào cũng có điều kiện đóng bảo hiểm để bảo vệ tài chính cho mình - Mức đóng bảo hiểm: mức đóng BHXH bắt buộc đƣợc pháp luật quy định cụ thể cho các bên tham gia mà các bên không có quyền thƣơng lƣợng hay thỏa thuận. Tỷ lệ % mức đóng của mỗi bên gồm NLĐ và NSDLĐ dựa trên cơ sở quỹ tiền lƣơng trả cho NLĐ. Pháp luật quy định nghĩa vụ của cả hai bên để chia sẻ nghĩa vụ tài chính khi đóng BHXH, tạo sự gắn kết lâu dài, hài hòa quan hệ lao động, bảo đảm quyền và lợi ích của các bên. - Khi đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, ngƣời lao động phải tham gia hết các bảo hiểm gồm có trong bảo hiểm xã hội bắt buộc nhƣ bảo hiểm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hƣu trí và tử tuất.
NLĐ sẽ đƣợc BHXH trợ cấp cho đến lúc chết khi tham gia BHXH. Khi còn làm việc, NLĐ đƣợc hƣởng các loại trợ cấp khi ốm đau, khi sinh con đối với lao động nữ, khi bị TNLĐ, còn nếu NLĐ không còn làm việc nữa thì đƣợc hƣởng tiền hƣu trí, khi chết thì gia đình đƣợc hƣởng trợ cấp tiền mai táng và tử tuất… Nhƣ vậy, ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm xã hội, BHXHBB có rất nhiều đặc trƣng riêng biệt, dựa vào những dấu hiệu này, ta có thể phân biệt BHXH BB với các loại bảo hiểm khác tồn tại trong xã hội. Vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm xã hội bắt buộc Đối với cuộc sống của một chúng ta, rủi ro luôn rình rập và có thể ập đến bất cứ lúc nào. Do đó, sự hỗ trợ giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội và sự đảm bảo của Nhà 8 nƣớc đối với các cá nhân, tổ chức là vô cùng cần thiết.
Từ xƣa đến nay, đã có rất nhiều biện pháp bảo vệ thu nhập của chúng ta đƣợc thực hiện nhƣ dựa vào sự đóng góp, ủng hộ của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, gây dựng các quỹ từ thiện, bảo hiểm… trong số đó, bảo hiểm xã hội đƣợc xem là biện pháp tối ƣu và quan trọng nhất. Bảo hiểm xã hội có mục tiêu rộng hơn sự phòng tránh hay giúp đỡ về tài chính, vật chất trong những trƣờng hợp cần thiết, mà nó còn là sự giải quyết những nhu cầu, những nguyện vọng của loài ngƣời muốn đƣợc bảo đảm an toàn trong cuộc sống một cách tốt nhất. Vai trò chủ yếu của bảo hiểm xã hội là tạo cho ngƣời lao động và thân nhân của họ một sự đảm bảo rằng mức sống và điều kiện sống của họ, trong một chừng mực có thể, không bị suy giảm đáng kể bởi bất kỳ hậu quả kinh tế hay xã hội nào. Bảo hiểm xã hội không chỉ gồm có việc giải quyết những nhu cầu nảy sinh khi lâm vào tình trạng khó khăn thiếu thốn, mà trƣớc hết nó nhằm phòng tránh những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời giúp đỡ cho cá nhân và gia đình có đƣợc một lá chắn vững chắc khi họ trải qua với bệnh tật, khiếm khuyết và những hoàn cảnh khó khăn khác khó có thể tránh khỏi.
Bảo hiểm xã hội hoạt động và phát triển bởi vì nó phản ánh đƣợc nhu cầu của toàn thể nhân loại.