Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi BHXH Phần 3: Phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu Phần 5: Kết luận và kiến nghị 3 c PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 2. Các khái niệm liên quan quản lý chi bảo hiểm xã hội 2.
Khái niệm về bảo hiểm xã hội Theo luật Bảo hiểm xã hội thì BHXH là biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro, sự kiện bảo hiểm làm suy giảm sức khoẻ, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết, gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội (Quốc hội,2006). Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đai, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết”. Định nghĩa này phản ánh một cách tổng quan về mục tiêu, bản chất và chức năng của BHXH đối với mỗi quốc gia.
Mục tiêu cuối cùng của bảo hiểm xã hội là hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với mọi người (Tổ chức ILO, 2012). Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với nguời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất, già yếu, mất việc làm, trên cơ sở hình thành một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của Nhà nước theo đúng pháp luật. Nhằm bảo đảm an toàn, ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo xã hội (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2011). Khái niệm chi bảo hiểm xã hội Chi bảo hiểm xã hội là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH để chi trả cho các chế độ BHXH nhằm ổn định cuộc sống của người tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH (Quốc hội, 2006).
Đó là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào 4 c quỹ BHXH. Quá trình phân phối được thực hiện theo từng mục đích sử dụng nhất định. Chi BHXH được thực hiện bởi hai quá trình: phân phối và sử dụng quỹ BHXH. - Phân phối quỹ BHXH: là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH để hình thành các quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và thai sản, quỹ TNLĐ vả BNN, quỹ hưu trí và từ tuất hoặc phân bổ cho các mục đích sử dụng khác nhau, như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ chi trả các chế độ BHXH.
- Sử dụng quỹ BHXH: là quá trình chi tiền của quỹ BHXH đến tay đối tưọng được thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể. Phân phối và sử dụng quỹ BHXH là hai phạm trù khác nhau, nhưng trong thực tế, hai quá trình này thường đan xen lẫn nhau. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, từ mục đích sử dụng quỹ đòi hỏi phải tách riêng hai quá trình này theo thứ tự trước sau. Ví dụ: hoạt động bảo tồn và tăng trưởng quỹ đòi hòi phải kết thúc quá trình phân phối quỹ, quỹ phải phân phối đủ cho mục đích chi trả các chế độ BHXH, số còn lại mới phân phối vào quỹ bảo tồn tăng trưởng.
Nghĩa là quỹ phải có số dư mới thực hiện đầu tư tăng trưởng. Như vậy có thể đưa ra khái niệm quản lý chi BHXH như sau: Chi BHXH là một trong những nhiệm vụ trung tâm và đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành BHXH. Chi bảo hiểm xã hội được hiểu là việc cơ quan Nhà nước (cụ thể là cơ quan bảo hiếm xã hội) sử dụng số tiền thuộc nguồn Ngân sách Nhà nước và nguồn quỹ bảo hiểm xã hội để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho đối tượng thụ hưởng theo luật định (Phạm Thị Định và cs. Hoạt động chi trả BHXH được thực hiện sau khi người tham gia BHXH hoàn thành nghĩa vụ nộp BHXH cho cơ quan BHXH.
Chi BHXH vừa có vai trò thực thi quyền lợi của người tham gia BHXH vừa góp phần ổn định đời sống, đảm bảo ASXH. Nguồn tài chính dùng để chi trả BHXH cho người lao động được lấy từ NSNN (đối với người lao động nghỉ hưởng BHXH trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 và thực hiện chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chổng Mỹ cứu nước từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước, có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ) và Quỹ BHXH (Phạm Thị Định và cs. Khái niệm về quản lý chi bảo hiểm xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng cách hiểu chung nhất là: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (chịu sự quản lý), đây là quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối quan hệ với nhau. Đối với hoạt động BHXH thì quản lý được bao gồm cả quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chi trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng. Quản lý chi BHXH được hiểu là sự tác động của các chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong các hoạt động lập, xét duyệt dự toán, tổ chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả các chế độ BHXH nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhất định. Khi nói tới chi BHXH là nói đến một loạt các mối quan hệ, bao gồm quan hệ giữa Nhà nước, cơ quan BHXH, người lao động và người sử dụng lao động.
Trong các mối quan hệ trên thì người lao động và chủ sử dụng lao động là đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý chính là Nhà nước và cơ quan BHXH các cấp từ Trung ương tới địa phương. Theo Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam, cơ quan quản lý BHXH ở trung ương là BHXH Việt Nam; ở địa phương có BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; BHXH huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh. Mục tiêu của quản lý chi BHXH là làm cho quá trình tổ chức chi trả chế độ BHXH thông suốt, chi trả đúng, đủ, kịp thời, phục vụ cho người tham gia và hưởng các chế độ BHXH ngày càng tốt hơn, góp phần ổn định, bảo đảm an toàn xã hội và thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Vai trò của quản lý chi bảo hiểm xã hội 2. Vai trò của bảo hiểm xã hội Hoạt động BHXH là hoạt động sự nghiệp của toàn xã hội, phục vụ mọi thành viên trong xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận. Do đó, BHXH có vai trò 6 c quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội của một quốc gia và được thể hiện ở các mặt sau: Thứ nhất, BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động. Người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết.
Mục đích lớn nhất của BHXH là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ. Người lao động sẽ được thay thế một phần thu nhập bị mất hoặc giảm thu nhập, điều này sẽ động viên người lao động yên tâm cống hiến và không phải lo lắng khi có rủi ro có thể xảy ra. Đồng thời, BHXH góp phần hạn chế và điều hòa các mâu thuẫn có thể xảy ra giữa người sử dụng lao động và người lao động, tạo môi trường làm việc bình đẳng, ổn định,đảm bảo cho hoạt động sản xuất, công tác đạt hiệu quả cao, từ đó góp phàn tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Đây là vai trò cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và phương hướng hoạt động của BHXH (Phạm Thị Định và cs.
Thứ hai, BHXH làm gắn bó lợi ích giữa người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước. BHXH không những đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ mà còn góp phần bảo vệ lợi ích của người sử dụng lao động khi có biến cố rủi ro xảy ra đối với người lao động trong đơn vị mình, nó tạo điều kiện cho người sử dụng lao động nhanh chóng ổn định sản xuất. Đồng thời, hoạt động BHXH còn thể hiện sự quan tâm của người sử dụng lao động đối với người lao động thông qua việc đóng góp vào quỹ BHXH, do đó người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, tích cực, sáng tạo trong quá trình lao động. Đối với Nhà nước, thông qua việc tổ chức hoạt động BHXH nhằm đảm bảo cho mọi người lao động, mọi tổ chức, đơn vị hoạt động sản xuất, kinh doanh bình đẳng, công bằng trong lao động sản xuất, góp phần cho nền kinh tế, chính trị và xã hội phát triển.
Thứ ba, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. BHXH dựa trên nguyên tắc người lao động bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và thụ hưởng. Mức hưởng BHXH phụ thuộc vào mức đóng, thời gian đóng theo nguyên tắc “có đóng – có hưởng” và “đóng ít – hưởng ít, đóng nhiều - hưởng nhiều”, đối tượng tham gia không chỉ trong khu vực nhà nước mà ở mọi thành phần kinh tế.