Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tiêu đề "Pháp luật về an toàn lao động ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Trọng Đào thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Huy Ban và PGS. TS. Nguyễn Hữu Chí, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số đào tạo 62385001, được thiết kế nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn về cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với lĩnh vực an toàn lao động tại Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU |
+--------------------------+--------------------------------------------------------+
| Tên đề tài | Pháp luật về an toàn lao động ở Việt Nam |
| Tác giả | Trần Trọng Đào |
| Người hướng dẫn khoa học | 1. TS. Nguyễn Huy Ban; 2. PGS. TS. Nguyễn Hữu Chí |
| Cơ sở đào tạo | Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Chuyên ngành | Luật Kinh tế (Mã số: 62385001) |
| Năm hoàn thành | 2013 |
| Văn bản pháp luật trọng tâm| BLLĐ 1994, BLLĐ sửa đổi (2002, 2006, 2007), BLLĐ 2012 |
+--------------------------+--------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Xuất phát từ quan điểm coi con người là vốn quý nhất của xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định người lao động vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Các chính sách về bảo hộ lao động đã được thể chế hóa từ sớm thông qua Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950, Điều lệ tạm thời ban hành theo Nghị định 181/CP ngày 18/12/1964, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992, Pháp lệnh Bảo hộ lao động năm 1991, Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007) và Bộ luật Lao động năm 2012.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, quy mô sản xuất và công nghệ mới gia tăng kéo theo các nguy cơ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ngày càng phức tạp. Sau 20 năm áp dụng các quy định pháp luật (tính từ Pháp lệnh Bảo hộ lao động 1991 đến thời điểm nghiên cứu), hệ thống văn bản pháp luật về an toàn lao động đã bộc lộ nhiều khoảng trống: nhiều quan hệ an toàn lao động thực tế chưa được luật hóa, các quy định còn tản mạn, thiếu tính đồng bộ và chưa có một công trình cấp nhà nước hoặc cấp bộ nào nghiên cứu toàn diện, tổng thể về pháp luật an toàn lao động ở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Tác giả xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về an toàn lao động và pháp luật về an toàn lao động, bao gồm khái niệm, bản chất, tính chất, nguyên tắc và vai trò của pháp luật về an toàn lao động;
- Phân tích đối tượng, phạm vi điều chỉnh, quyền và nghĩa vụ pháp lý của người sử dụng lao động, người lao động cùng cơ chế quản lý nhà nước về an toàn lao động;
- Khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật thực định và tình hình tổ chức thực thi pháp luật an toàn lao động tại Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2013, chỉ rõ các thành tựu, bất cập và nguyên nhân;
- Xây dựng các căn cứ, định hướng và đề xuất hệ thống 03 nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật an toàn lao động ở Việt Nam, trọng tâm là xây dựng luật chuyên ngành độc lập.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn lao động được pháp luật điều chỉnh; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn lao động của Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế liên quan; thực tiễn áp dụng và thực thi các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ an toàn lao động.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian và chủ thể: Bao quát mọi chủ thể tham gia quan hệ an toàn lao động tại Việt Nam, không giới hạn ở khu vực doanh nghiệp nhà nước mà mở rộng sang công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), công ty liên doanh, các tập đoàn kinh tế, hợp tác xã, hộ sản xuất nông nghiệp, làng nghề, trang trại có thuê mướn lao động và các đơn vị sự nghiệp.
- Về thời gian: Khảo sát hệ thống pháp luật và số liệu thực tiễn tai nạn lao động từ năm 1992 đến thời điểm năm 2013 (giai đoạn chuyển giao thi hành Bộ luật Lao động năm 2012).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu trong nước
Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu tại Việt Nam theo hai nhóm tiếp cận chính:
- Dưới góc độ khoa học kỹ thuật: Các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ Lao động thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Tạp chí Bảo hộ lao động tập trung vào việc thiết lập tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn, kỹ thuật che chắn, chống bụi, chống ồn và cải thiện môi trường vật lý tại nơi làm việc.
- Dưới góc độ pháp lý:
- Luận án tiến sĩ: Đề tài "Hoàn thiện pháp luật về bồi thường tai nạn lao động" của Lê Kim Dung (nghiên cứu sinh tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) tập trung vào khía cạnh bồi thường thiệt hại và đề xuất 03 phương án bồi thường tai nạn lao động.
- Luận văn thạc sĩ: Đề tài "An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam" của Lê Thị Phương Thúy (Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu nhóm đối tượng chuyên biệt; đề tài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật AT-VSLĐ" của Đỗ Ngân Bình (Đại học Luật Hà Nội, 2001) nghiên cứu lý luận mang tính khái quát và tổ chức thực hiện.
- Khóa luận tốt nghiệp tại Đại học Luật Hà Nội: Bao gồm 07 khóa luận tiêu biểu như Lý Thị Xuân Hoa (1997), Đặng Thị Sen (2006), Nguyễn Thị Thu Hiền (2000), Mạc Phương Khanh (2009), Đàm Thị Ngọc Mai (2012) khảo sát thực tiễn tại doanh nghiệp cụ thể (Công ty cổ phần Khai thác chế biến khoáng sản Hải Dương).
- Bài viết tạp chí chuyên ngành: Đỗ Thị Dung (Tạp chí Luật học số 3/2011) về trách nhiệm doanh nghiệp; PGS. TS. Nguyễn An Lương - Chủ tịch Hội ATVSLĐ Việt Nam (Tạp chí Bảo hộ lao động số 8/2011) với bài viết đề xuất 05 nhóm vấn đề phục vụ soạn thảo luật an toàn, vệ sinh lao động.
- Khảo sát sửa đổi Bộ luật Lao động 2012: Bộ luật Lao động năm 2012 bổ sung quy định về khuyến khích dịch vụ an toàn lao động (khoản 2 Điều 134), chương trình an toàn vệ sinh lao động cấp tỉnh (khoản 2 Điều 135) và chuyển đổi thuật ngữ "luận chứng" thành "phương án" các biện pháp bảo đảm an toàn.
+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG HỢP CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU ĐƯỢC TỔNG THUẬT TRONG LUẬN ÁN |
+----------------------+--------------------+-----------------------------------------------------------+
| Tác giả / Nguồn | Năm / Xuất bản | Nội dung / Phạm vi nghiên cứu |
+----------------------+--------------------+-----------------------------------------------------------+
| Lê Kim Dung | Luận án Tiến sĩ | Hoàn thiện pháp luật về bồi thường tai nạn lao động |
| Lê Thị Phương Thúy | Luận văn Thạc sĩ | AT-VSLĐ đối với lao động nữ trong luật lao động Việt Nam |
| Đỗ Ngân Bình | Luận văn Thạc sĩ/2001| Lý luận và thực tiễn của pháp luật AT-VSLĐ |
| Đỗ Thị Dung | Tạp chí Luật học/2011| Trách nhiệm của doanh nghiệp về bảo đảm AT-VSLĐ |
| PGS. TS. Nguyễn An Lương| Tạp chí BHLĐ/2011| 5 vấn đề xây dựng dự thảo luật an toàn lao động |
| Paul Harpur | Luận án Tiến sĩ/2009| Quyền lao động và an toàn lao động tại Úc (chuỗi cung ứng)|
| Duley, G. | Luận án Tiến sĩ | Quản lý nhà nước và thanh tra an toàn vệ sinh lao động |
| Lanoie, P. | Luận án Tiến sĩ/1990| Sự can thiệp của Chính phủ đối với AT-VSLĐ (Canada) |
| Park, Y. | Luận án Tiến sĩ/1997| An toàn nơi làm việc và chế độ bồi thường (Hoa Kỳ) |
| Seppala, A. | Luận án Tiến sĩ/1992| Đánh giá biện pháp an toàn và mối liên hệ tai nạn (Phần Lan)|
| Tudor, L. | Luận án Tiến sĩ/1988| Mô hình ra quyết định thanh tra OSHA và sự tuân thủ |
| B. Drozdowsky & Ph. Wihaker| Sách (1999) | Nhận diện rủi ro, bảo vệ sinh sản và sức khỏe nơi làm việc|
| J. Paul Leigh | Sách (1995) | Nguyên nhân và tỷ lệ tử vong nghề nghiệp tại nơi làm việc |
+----------------------+--------------------+-----------------------------------------------------------+
Tình hình nghiên cứu quốc tế
Văn bản điểm luận hệ thống dữ liệu quốc tế với hơn 6 triệu ấn phẩm và 40.776 luận án tiến sĩ về các quy định an toàn lao động:
- Các luận án tiến sĩ tiêu biểu: Luận án của Thụy Sĩ (140 trang, thiên về kỹ thuật); Paul Harpur (Úc, 2009, 468 trang, 10 chương) tiếp cận an toàn lao động dưới góc độ nhân quyền; Duley, G. (Đại học Quốc gia Wayne, Mỹ) về cơ chế quản trị và phân quyền của cơ quan quản lý an toàn; Lanoie, P. (Đại học Queen, Canada, 1990) về vai trò can thiệp của chính phủ; Park, Y. (Đại học Minnesota, 1997) về bồi thường và phân định yếu tố lỗi; Seppala, A. (Phần Lan, 1992) về phương pháp đánh giá điều kiện an toàn; Tudor, L. (Đại học George Washington, 1988) về quyết định thanh tra và mức độ tuân thủ của doanh nghiệp.
- Sách và bài báo chuyên khảo: Công trình của Joseph V. Rees (1988), Neil Gunningham và Richard Johnstone (1999), Carol Boyd (2003), David A. Hofmann và Lois E. Tetrick, Terry Thomason (2005) nghiên cứu về cơ chế tự điều chỉnh, chế tài xử phạt, bảo hiểm và chi phí bồi thường.
- Khảo cứu pháp luật quốc tế: Pháp luật chuyên ngành tại Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Philippines, Mỹ (OSHA), Anh (HSWA) và Trung Quốc (năm 2005 tách thành 02 luật chuyên ngành: Luật An toàn sản xuất và Luật Phòng ngừa, điều trị bệnh nghề nghiệp).
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Hầu hết các công trình trong nước và quốc tế chỉ tập trung vào một chế định hẹp (bồi thường, lao động nữ, cơ chế thanh tra) hoặc tiếp cận thuần túy dưới góc độ kỹ thuật. Luận án của Trần Trọng Đào là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học tại Việt Nam nghiên cứu toàn diện, tổng thể hệ thống pháp luật an toàn lao động, kết hợp giữa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng pháp điển hóa và đề xuất mô hình luật chuyên ngành độc lập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ sức lao động, kết hợp lý luận về nhà nước pháp quyền và nhân quyền quốc tế:
- Bảo hộ lao động: Tổng thể các biện pháp pháp luật, khoa học kỹ thuật, kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm an toàn và sức khỏe người lao động; gồm 03 nội dung: ban hành và giám sát quy phạm pháp luật, tuân thủ yêu cầu kỹ thuật trong toàn bộ quy trình công nghệ, giáo dục và huấn luyện nâng cao nhận thức.
- An toàn lao động: Tình trạng điều kiện lao động không gây ra sự nguy hiểm trong sản xuất; dưới góc độ pháp lý là tổng hợp quy phạm nhà nước quy định biện pháp phòng ngừa và khắc phục hậu quả tai nạn lao động.
- Vệ sinh lao động và Điều kiện lao động: Tổng thể yếu tố kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, không gian và thời gian tác động lên sức khỏe thể chất và tâm - sinh lý của người lao động.
- Kỹ thuật an toàn: Hệ thống biện pháp và phương tiện kỹ thuật kết hợp với thao tác, quy trình làm việc chuẩn mực nhằm loại trừ chấn thương.
- Tính chất bảo đảm an toàn lao động: 03 tính chất gồm tính quần chúng, tính khoa học kỹ thuật và tính pháp lý.
- Bốn nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn lao động:
- Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý về an toàn lao động;
- Nguyên tắc bảo đảm an toàn lao động cho mọi đối tượng tham gia quan hệ lao động;
- Nguyên tắc thực hiện an toàn lao động là nghĩa vụ bắt buộc, các bên không được tự ý thỏa thuận trái quy chuẩn hoặc làm phương hại đến quyền lợi của người lao động;
- Nguyên tắc đề cao và bảo đảm quyền, trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong lĩnh vực an toàn lao động.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng phục vụ khoa học pháp lý:
- Phương pháp phân tích quy phạm và phân tích thực chứng: Phân tích các điều khoản của Bộ luật Lao động, các văn bản dưới luật để chỉ ra sự mâu thuẫn, chồng chéo, xung đột pháp lý; phân tích nguyên nhân các vụ tai nạn lao động điển hình.
- Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý chuỗi số liệu về tình hình tai nạn lao động, số vụ tử vong, số người bị thương tật từ năm 1992 đến 2013; khảo sát dữ liệu tuân thủ tại các doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH, công ty FDI, liên doanh, công ty cổ phần và tập đoàn kinh tế.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định áp dụng giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước và ngoài quốc doanh; so sánh pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và pháp luật các quốc gia như Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, các nước ASEAN.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu, tham vấn ý kiến đại diện các doanh nghiệp, cán bộ Công đoàn các cấp, Thanh tra lao động, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các chuyên gia an toàn lao động trong nước và quốc tế.
- Phương pháp lịch sử và tổng hợp: Đánh giá tiến trình phát triển của chính sách bảo hộ lao động qua từng thời kỳ lịch sử.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản pháp quy của Việt Nam từ Sắc lệnh 29/SL (1947) đến Bộ luật Lao động năm 2012 và các thông tư, nghị định liên tịch;
- Các Công ước quốc tế của ILO: Công ước số 155 (năm 1981 về an toàn, vệ sinh lao động và môi trường làm việc đã được Việt Nam phê chuẩn), Công ước số 148 (năm 1977 về ô nhiễm không khí, tiếng ồn và rung), Công ước số 174 (năm 1991 về phòng ngừa tai nạn công nghiệp lớn);
- Báo cáo định kỳ và tài liệu lưu trữ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Y tế và các cơ quan thanh tra quản lý nhà nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu pháp luật về an toàn lao động
Chương 1 tổng thuật bức tranh toàn cảnh về nghiên cứu an toàn lao động tại Việt Nam và trên thế giới:
- Đánh giá các công trình nghiên cứu trong nước trước năm 2013: số lượng bài viết về kỹ thuật an toàn tương đối phong phú nhưng nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý còn tản mạn, chủ yếu là các khóa luận hoặc luận văn tập trung vào mảng hẹp như lao động nữ hay bồi thường tai nạn.
- Phân tích kinh nghiệm lập pháp quốc tế: khảo sát mô hình quản trị an toàn lao động của Mỹ (OSHA), cơ chế can thiệp của chính phủ tại Canada, hệ thống đánh giá điều kiện tại Phần Lan và đặc biệt là xu hướng pháp điển hóa thành các luật chuyên ngành độc lập tại các nước Châu Á (Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc).
- Rút ra bài học cho Việt Nam: sự cần thiết phải mở rộng thẩm quyền cho cơ quan thanh tra an toàn (như quyền đình chỉ, thu hồi giấy phép, yêu cầu truy tố), thành lập cơ quan tư vấn công độc lập và xây dựng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ.
Chương 2: Cơ sở lý luận về an toàn lao động và pháp luật về an toàn lao động
Chương 2 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện cho việc điều chỉnh pháp luật:
- Luận giải mối quan hệ giữa sức lao động và sự tồn tại của xã hội: lao động là tiền đề xã hội; bảo vệ sức lao động là điều kiện khách quan để duy trì tái sản xuất mở rộng và ổn định kinh tế. Phân tích sự đối lập giữa quan điểm bóc lột giá trị thặng dư làm gia tăng cường độ lao động trong nền kinh tế tư bản thời kỳ đầu với quan điểm nhân văn xã hội chủ nghĩa coi con người là trung tâm.
- Xác định 03 giá trị mục đích của an toàn lao động: bảo đảm an toàn thân thể, bảo vệ sức khỏe không mắc bệnh nghề nghiệp và duy trì, phục hồi khả năng lao động lâu dài.
- Xác lập cơ sở pháp lý và 04 nguyên tắc điều chỉnh bắt buộc; khẳng định quan hệ an toàn lao động mang tính quyền uy - phục tùng nghiêm ngặt, không cho phép các bên thỏa thuận hạ thấp tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn.
- Phân tích cấu trúc nội dung điều chỉnh của pháp luật an toàn lao động gồm 05 nhóm quy định: quản lý nhà nước; xác lập quy chuẩn kỹ thuật; phân định quyền và nghĩa vụ chủ thể; thanh tra, xử lý vi phạm; giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp tai nạn lao động.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về an toàn lao động ở Việt Nam
Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định và tình hình thi hành:
- Rà soát các quy định quản lý nhà nước, thẩm quyền của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các bộ chuyên ngành và vai trò giám sát của tổ chức Công đoàn.
- Đánh giá thực trạng các quy định về quy chuẩn an toàn, quy trình điều tra, báo cáo và bồi thường tai nạn lao động.
- Chỉ ra các kết quả đạt được: bước đầu hình thành hệ thống quy phạm pháp luật tương đối đa dạng, điều chỉnh các yêu cầu an toàn cơ bản trong khu vực doanh nghiệp chính thức.
- Nhận diện những hạn chế và bất cập lớn (trang 121):
- Khoảng trống đối tượng điều chỉnh: Chỉ rõ ít nhất 05 nhóm đối tượng bị pháp luật bỏ trống hoặc chưa điều chỉnh thỏa đáng: (1) người lao động làm việc tại các làng nghề truyền thống; (2) người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp; (3) người làm công, thuê mướn thuần túy không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; (4) người lao động bị tai nạn giao thông trên đường giao thông quốc gia khi thực hiện nhiệm vụ; (5) người bị tai nạn trên hệ thống giao thông nội bộ của doanh nghiệp.
- Tình trạng phân tán và mâu thuẫn văn bản: Quy định về an toàn lao động nằm rải rác ở nhiều luật, nghị định, thông tư do nhiều bộ ngành cùng ban hành, dẫn đến sự chồng chéo về chức năng quản lý, khó khăn trong tra cứu hiệu lực áp dụng.
- Hạn chế trong tổ chức thực hiện: Thiếu cơ quan tư vấn công độc lập; hoạt động thanh tra an toàn lao động còn mỏng về lực lượng, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, dẫn đến tình trạng vi phạm quy chuẩn an toàn diễn ra phổ biến.
+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM (CHƯƠNG 3) |
+------------------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Tiêu chí phân tích | Nội dung phát hiện từ thực tiễn |
+------------------------------+------------------------------------------------------------------------+
| 5 nhóm đối tượng bị bỏ trống | 1. Lao động tại làng nghề |
| | 2. Lao động sản xuất nông nghiệp |
| | 3. Lao động làm thuê tự do, không có hợp đồng lao động |
| | 4. Bị tai nạn giao thông trên đường quốc gia khi đi làm |
| | 5. Bị tai nạn trên các tuyến đường giao thông nội bộ cơ sở sản xuất |
+------------------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Bất cập về pháp điển hóa | Văn bản nằm rải rác, chồng chéo giữa nhiều Bộ ngành quản lý |
+------------------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Thiết chế hỗ trợ thực thi | Chưa có cơ quan độc lập làm nhiệm vụ tư vấn công về an toàn lao động |
+------------------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Hiệu quả thanh tra, chế tài | Bộ máy thanh tra chưa đáp ứng quy mô phát triển; xử lý vi phạm chưa đủ răn đe|
+------------------------------+------------------------------------------------------------------------+
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động ở Việt Nam
Chương 4 đề xuất khung giải pháp hoàn thiện có tính hệ thống:
- Xác lập 05 phương hướng hoàn thiện:
- Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về coi trọng con người;
- Phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi;
- Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa luật chung (Bộ luật Lao động) và luật chuyên ngành;
- Bảo đảm mối quan hệ gắn kết biện chứng giữa nội dung pháp lý và tính chất khoa học kỹ thuật của an toàn lao động;
- Đảm bảo tính tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế (các công ước ILO) và kinh nghiệm lập pháp thế giới.
- Đề xuất 03 nhóm giải pháp cụ thể:
- Giải pháp 1 (Trọng tâm hàng đầu): Soạn thảo và ban hành Luật chuyên ngành về An toàn, vệ sinh lao động độc lập nhằm pháp điển hóa toàn bộ các quy phạm đang phân tán, mở rộng phạm vi điều chỉnh đến mọi người lao động trong xã hội.
- Giải pháp 2: Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung kịp thời các điều khoản bất cập trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn hiện hành trong giai đoạn chuẩn bị ban hành luật chuyên ngành.
- Giải pháp 3: Đổi mới và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện pháp luật: kiện toàn tổ chức thanh tra an toàn lao động, thành lập cơ quan tư vấn công về an toàn vệ sinh lao động, chuẩn hóa công tác huấn luyện an toàn và phát huy vai trò của mạng lưới an toàn vệ sinh viên tại cơ sở.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về an toàn lao động và pháp luật an toàn lao động trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- Luận giải sâu sắc bản chất pháp lý, làm rõ ranh giới và mối quan hệ giữa các khái niệm: bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, kỹ thuật an toàn và điều kiện lao động.
- Xác lập 04 nguyên tắc nền tảng của pháp luật an toàn lao động; khẳng định quyền được làm việc trong điều kiện an toàn là quyền cơ bản của con người thuộc nhóm nhân quyền tự nhiên cần được nhà nước bảo đảm tuyệt đối.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Nhận diện chính xác 05 khoảng trống lớn về đối tượng áp dụng của pháp luật lao động hiện hành (lao động làng nghề, nông nghiệp, lao động tự do không hợp đồng, người bị tai nạn giao thông liên quan đến công việc).
- Chỉ rõ thực trạng phân tán, chồng chéo thẩm quyền giữa các bộ ngành trong quản lý nhà nước về an toàn lao động tại Việt Nam.
- Khẳng định tính tất yếu và đề xuất mô hình lập pháp ban hành Luật An toàn, vệ sinh lao động chuyên ngành độc lập tại Việt Nam, kế thừa kinh nghiệm thành công của các nước như Trung Quốc (2005), Hàn Quốc, Singapore, Mỹ và Anh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô về khung thể chế pháp lý và cơ chế quản lý nhà nước tổng thể, chưa đi sâu giải quyết các tiêu chuẩn kỹ thuật chi tiết của từng chuyên ngành công nghiệp đặc thù hoặc quy trình kiểm định đối với từng loại máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả chỉ ra
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các quy định an toàn lao động trong điều kiện môi trường lao động đặc thù ở khu vực nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam;
- Nghiên cứu hoàn thiện các quy phạm an toàn lao động phù hợp với tâm lý, thói quen, truyền thống và phong tục tập quán của người lao động Việt Nam;
- Nghiên cứu phương pháp lượng hóa các tổn thất phi vật chất lâu dài đối với gia đình và xã hội khi xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng (mất mát nguồn nhân lực được đào tạo lành nghề, chi phí cơ hội và gánh nặng nuôi dưỡng thế hệ tương lai).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ việc soạn thảo, thẩm tra và ban hành Luật An toàn, vệ sinh lao động tại Việt Nam; hỗ trợ hoàn thiện quy trình điều tra, bồi thường tai nạn lao động và cơ chế thanh tra liên ngành.
- Đối với tổ chức Công đoàn và giới sử dụng lao động (VCCI, hiệp hội doanh nghiệp): Giúp nâng cao nhận thức về tính pháp lý bắt buộc của công tác an toàn lao động; làm cơ sở xây dựng quy chế nội bộ, hợp đồng lao động và quy trình tự kiểm tra, giám sát an toàn tại cơ sở sản xuất.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên luật: Cung cấp tài liệu tổng quan toàn diện, có hệ thống về pháp luật an toàn lao động trong nước và so sánh quốc tế, làm tài liệu tham khảo cho các học phần Luật Lao động và Luật An sinh xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến sự lạc hậu, bất cập của pháp luật an toàn lao động tại Việt Nam?
Tác giả chỉ ra rằng nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sự chuyển đổi nhanh chóng sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần với công nghệ và phương thức sản xuất đa dạng, trong khi khung khổ pháp lý an toàn lao động vẫn dựa trên cơ chế cũ, văn bản nằm phân tán ở nhiều ngành, thiếu tính đồng bộ và chưa được pháp điển hóa thành luật chuyên ngành độc lập.
2. Luận án chỉ ra 05 nhóm đối tượng cụ thể nào chưa được pháp luật an toàn lao động điều chỉnh thỏa đáng?
Năm nhóm đối tượng bao gồm:
- Người lao động làm việc tại các làng nghề truyền thống;
- Người lao động sản xuất trong khu vực nông nghiệp;
- Người làm công, làm thuê mướn thuần túy không có hợp đồng lao động bằng văn bản;
- Người lao động bị tai nạn giao thông trên đường giao thông quốc gia khi đang thực hiện nhiệm vụ lao động;
- Người lao động bị tai nạn trên hệ thống giao thông nội bộ trong khuôn viên doanh nghiệp.
3. Kinh nghiệm quốc tế nào được tác giả đề xuất Việt Nam cần tiếp thu để hoàn thiện hệ thống an toàn lao động?
Luận án đề xuất tiếp thu 04 điểm kinh nghiệm quốc tế lớn:
- Xây dựng luật an toàn, vệ sinh lao động thành đạo luật chuyên ngành độc lập;
- Mở rộng quyền hạn và cơ chế đảm bảo cho cơ quan thanh tra (quyền đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép, yêu cầu truy tố);
- Đề cao hệ thống các quy định phòng ngừa rủi ro chủ động tại nơi làm việc;
- Thành lập cơ quan độc lập làm nhiệm vụ tư vấn công và tuyên truyền, phổ biến pháp luật an toàn lao động.
4. Giải pháp ưu tiên hàng đầu mà luận án đề xuất là gì?
Giải pháp ưu tiên hàng đầu là xây dựng và ban hành Luật An toàn, vệ sinh lao động chuyên ngành độc lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh đến mọi thành phần kinh tế và mọi người lao động, khắc phục sự phân tán và chồng chéo thẩm quyền giữa các bộ ngành.
5. Vì sao pháp luật an toàn lao động mang tính quyền uy bắt buộc mà không cho phép các bên tự do thỏa thuận?
Do an toàn lao động liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người lao động nên các quy phạm kỹ thuật và pháp lý phải mang tính bắt buộc tuyệt đối. Các bên chỉ được phép thỏa thuận các điều kiện có lợi hơn cho người lao động chứ tuyệt đối không được phép thỏa thuận hạ thấp tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn đã được Nhà nước quy định.
Kết luận
Luận án "Pháp luật về an toàn lao động ở Việt Nam" của tác giả Trần Trọng Đào là công trình khoa học tiến sĩ luật học có tính hệ thống và bao quát toàn diện về cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với an toàn lao động. Tác giả đã giải quyết thỏa đáng các vấn đề lý luận nền tảng, chỉ rõ các khoảng trống pháp lý và hạn chế trong tổ chức thi hành sau 20 năm áp dụng pháp luật, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp khả thi với trọng tâm là ban hành luật chuyên ngành độc lập. Công trình đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho tiến trình cải cách pháp luật lao động, thúc đẩy sự an toàn và quyền con người của người lao động trong công cuộc phát triển đất nước.