Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học đƣa ra định nghĩa về thuế thu nhập doanh nghiệp. Trần Văn Giao (2009) cho rằng thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp [4, tr. Theo Lê Thị Thu Huyền (2016) thì: “Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các doanh nghiệp sau khi đã trừ chi phí kinh doanh, lãi suất, chí phí, khấu hao và các khoản đƣợc phép khấu trừ khác” [5, tr.
Vũ Thị Thùy Linh (2015) cũng định nghĩa thuế thu nhập doanh nghiệp nhƣ sau: “Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập của cơ sở kinh doanh trong kỳ tính thuế sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến thu nhập đó” [6, tr. Ngƣời viết cũng có cách tiếp cận tƣơng tự nhƣ các tác giả trƣớc đó về thuế thu nhập doanh nghiệp. Trƣớc khi đƣa định nghĩa về thuế thu nhập doanh nghiệp, ngƣời viết có một số phân tích nhƣ sau: Trƣớc hết, doanh nghiệp ở đây đƣợc hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các cơ sở kinh doanh bao gồm cả các chủ thể kinh doanh đƣợc thành lập theo pháp luật nƣớc sở tại, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức có hành vi kinh doanh phát sinh thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh nƣớc ngoài có cơ sở thƣờng trú ở nƣớc sở tại và các chủ thể kinh doanh nƣớc ngoài không có cơ sở thƣờng trú ở nƣớc sở tại nhƣng có thu nhập phát sinh ở nƣớc sở tại. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chức năng của doanh nghiệp là kinh doanh tức là thực hiện các hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
Để thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần thuê nhân công, thuê trụ sở làm việc, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động, vay vốn ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu để có vốn phục vụ hoạt động,… Tất cả những hoạt động này đều phát sinh chi phí cho doanh nghiệp. Nhƣ vậy, những chi phí hợp lý mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh cần đƣợc chi trả hoặc bù đắp bởi một phần thu nhập của doanh nghiệp. Nếu nhƣ doanh nghiệp phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trên tổng thu nhập thì phần thu nhập đƣợc sử dụng để thanh toán chi phí hợp lý hoặc bù đắp nguồn vốn đƣợc sử dụng để thanh toán chi phí sẽ sụt giảm. Hậu quả là nguồn vốn của doanh nghiệp có nguy cơ không đƣợc bảo toàn.
Điều này trái với nguyên tắc bảo toàn vốn. Hơn nữa, bản chất của phần thu nhập đƣợc sử dụng để thanh toán hoặc bù đắp chi phí chính là nợ của doanh nghiệp. Về nguyên lý, thuế không thể đánh trên nợ của doanh nghiệp bởi vì sẽ làm gia tăng nghĩa vụ của ngƣời có nghĩa vụ. Vì lẽ đó, các chi phí hợp lý đƣợc trừ khỏi tổng thu nhập để xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp.
Từ những phân tích trên, có thể đƣa ra định nghĩa về thuế thu nhập doanh nghiệp nhƣ sau: Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở kinh doanh phát sinh trong kỳ tính thuế. Trong đó, thu nhập chịu thuế bằng tổng thu nhập của doanh nghiệp trong thời kỳ tính thuế trừ đi tổng chi phí hợp lý của doanh nghiệp đƣợc chấp nhận trong kỳ tính thuế. Từ định nghĩa trên có thể thấy thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu. Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu vì ngƣời chịu thuế và ngƣời có nghĩa vụ nộp thuế là một.
Nói cách khác, ngƣời nộp thuế không thể chuyển nghĩa vụ thuế 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sang cho các đối tƣợng khác [16, tr. Đối với các quốc gia phát triển, thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thuế; ngƣợc lại, các quốc gia đang phát triển trông cậy nhiều vào thuế gián thu [4, tr. Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế đánh vào thu nhập của cơ sở kinh doanh, không đánh vào vốn và nợ của cơ sở kinh doanh. Nhƣ vậy, các khoản thu từ chào bán cổ phần, trái phiếu, vay ngân hàng,… không thuộc thu nhập chịu thuế.
Doanh nghiệp chỉ chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trên thu nhập ròng tức là thu nhập thuần trừ đi chi phí hợp lý. Việc chấp nhận cho doanh nghiệp đƣợc trừ chi phí hợp lý trong tổng thu nhập để xác định thu nhập chịu thuế, dẫn đến hệ quả là nguồn thu ngân sách của nhà nƣớc phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh và sự trung thực của chủ thể nộp thuế. Đặc điểm này của thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là một điểm hạn chế mà các doanh nghiệp sẽ lợi dụng để lẩn tránh nghĩa vụ nộp thuế thông qua việc kê khai tăng chi phí. Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là một công cụ đƣợc Nhà nƣớc sử dụng để điều tiết và tái cấu trúc nền kinh tế.
Đối với những lĩnh vực kinh tế mà Nhà nƣớc muốn phát triển, Nhà nƣớc sẽ áp dụng những chính sách ƣu đãi nhằm thu hút đầu tƣ. Đối với những lĩnh vực kinh tế mà Nhà nƣớc hạn chế phát triển, Nhà nƣớc có thể áp dụng mức thuế suất cao hoặc không cho hƣởng những ƣu đãi thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí sẽ đƣợc phân tích ở phần sau của chƣơng này. Ngoài những đặc điểm trên, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có những đặc điểm chung của các loại thuế đó là tính không bồi hoàn, tính bắt buộc và tính quyền lực nhà nƣớc.
Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Quan hệ thuế thu nhập doanh nghiệp là quan hệ giữa nhà nƣớc với chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế (đồng thời là chủ thể chịu thuế) liên quan đến việc 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế. Đây là quan hệ hành chính nhà nƣớc mang tính quyền uy. Trong đó, Nhà nƣớc, thông qua cơ quan thuế, có quyền thu thuế và áp dụng các biện pháp cƣỡng chế để buộc ngƣời nộp thuế thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ thuế.
Tính quyền uy trong quan hệ thuế đƣợc mô tả nhƣ sau: Để có đƣợc nguồn thu, nhà nƣớc yêu cầu ngƣời dân phải nộp thuế. Để có thể tăng thêm khả năng chi tiêu, nhà nƣớc có thể ban hành thay đổi các loại thuế mới hoặc bãi bỏ những ƣu đãi về thuế đang áp dụng đối với ngƣời dân. Để kịp trang trải cho hoạt động của mình, có đƣợc số thu ổn định và chủ động, nhà nƣớc yêu cầu ngƣời dân nộp đúng, nộp đủ, theo thời hạn số thuế nhất định [8, tr. Trƣớc đây, cơ quan thuế thƣờng ra các mệnh lệnh hành chính buộc chủ thề có nghĩa vụ nộp thuế phải thực hiện kê khai và nộp thuế.
Việc kê khai và nộp thuế phải tuân theo đúng mệnh lệnh do cơ quan thuế đƣa ra. Tuy nhiên, theo thời gian, phƣơng thức trên bộc lộ nhiều hạn chế, tạo ra tính quan liêu, hách dịch và cửa quyền trong thực hiện công việc của cơ quan thuế, gây phiền hà và tốn kém cho ngƣời nộp thuế. Vì vậy, ngày nay, chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế có quyền tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế. Mặc dù vậy thì tính quyền uy vẫn thể hiện ở việc cơ quan thuế có quyền kiểm tra thông tin thuế của doanh nghiệp.
Trong trƣờng hợp, nếu xét thấy có dấu hiệu gian lận về thuế, cơ quan thuế có quyền tiến hành kiểm tra, thanh tra thuế, truy thu thuế và áp dụng các biện pháp chế tài xử lý hành vi gian lận thuế. Về mặt lý luận, để kiểm soát giao dịch chuyển giá, giữa một hoặc nhiều cơ quan thuế (thuộc nhiều quốc gia liên quan) và chủ thể nộp thuế (thƣờng là công ty đa quốc gia) ký kết thỏa thuận trƣớc về phƣơng pháp xác định giá tính thuế (APA). Phải chăng APA là một ngoại lệ của tính quyền uy trong quan hệ thuế. Thực chất, APA là một thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý.
Ngƣời nộp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuế phải tuân thủ đầy đủ các quy định về phạm vi giao dịch, xác định giá chuyển giao, nghĩa vụ nộp thuế. Nếu ngƣời nộp thuế vi phạm APA thì cơ quan thuế có quyền đơn phƣơng chấm dứt APA. APA có lợi ích giúp ngƣời nộp thuế dự đoán một cách chính xác nghĩa vụ thuế của mình, giúp cơ quan thuế kiểm soát đƣợc việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của ngƣời nộp thuế, hạn chế đến mức thấp nhất các thủ tục kiểm tra, thanh tra thuế, tranh chấp thuế gây tốn kém thời gian và tiền bạc. Mặc dù các quy định trong APA đƣợc xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên nhƣng thỏa thuận APA không làm mất quyền áp dụng các biện pháp cƣỡng chế buộc ngƣời nộp thuế phải tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế.
Nhƣ vậy, tính quyền uy trong quan hệ thuế không mất đi mà chỉ giảm bớt sự cứng nhắc, quan liêu để phù hợp với quy luật vận hành của kinh tế thị trƣờng. Nhƣ vậy, để điều chinh các quan hệ thuế, Nhà nƣớc cần thiết lập một bộ phận pháp luật sử dụng phƣơng pháp quyền uy là chủ yếu có kết hợp phƣơng pháp tự nguyện và phƣơng pháp thỏa thuận. Trong đó, phƣơng pháp tự nguyện và phƣơng pháp thỏa thuận là những phƣơng pháp bổ sung cho phƣơng pháp quyền uy mà không loại trừ phƣơng pháp quyền uy. Từ những phân tích trên, ngƣời viết đƣa ra định nghĩa pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp nhƣ sau: Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là một bộ phận của pháp luật thuế bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập doanh nghiệp giữa nhà nƣớc với chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế.
Nguyên tắc của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải bảo đảm những nguyên tắc sau: Nguyên tắc công bằng Trên phƣơng diện kinh tế, nguyên tắc công bằng đòi hỏi thuế tái phân phối thu nhập xã hội theo khả năng tài chính của mỗi ngƣời chịu thuế. Về mặt 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.