Chương 1 này là trình bay khái quát các kết quả nghiên cứu đã được công bố liên quan đến đề tài, đồng thời đánh giá về giá trị tham khảo của những kết quả đó trong quá trình thực hiện việc nghiên cứu đề tài. Từ những đánh giá về kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố, người viết sẽ xác định phương hướng và những mục tiêu nghiên cứu cụ thể của các Chương tiếp theo. Thứ tự đánh giá các kết quả nghiên cứu sẽ phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu của dé tài, bao gồm việc đánh giá những kết quả nghiên cứu về lý luận pháp luật kinh doanh BHNT, những kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật và những đề xuất, giải pháp được các công trình nghiên cứu trước đưa ra để hoàn thiện pháp luật kinh doanh BHNT. Những kết quả nghiên cứu lý luận về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ a) Lý luận về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ - Về khái niệm và đặc điểm BHNT Ở Việt Nam, trong các công trình nghiên cứu trong nước có nhiều định nghĩa về BHNT như: Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001) trong tác phẩm “Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm” [50]; Nguyễn Thị Hải Đường (2006) trong công trình “Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở -7- Việt Nam” [37]; Nguyễn Văn Dinh (2008) trong “Giáo trình Bao hiểm) (33]; và Doan Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ (2011) tại “Giáo trình Bảo hiểm nhân tho” [56].
Ở nước ngoải, cũng có nhiều công trình khoa học đề cập đến khái niệm BHNT, có thể kế đến như: “Black's Law Dictionary” cha tác giả Bryan A.Garner (1999) [111]; “Giáo khoa quốc tế vé bảo hiểm” của tác giả Jétôme Yeatman (2001) [89]; và John Birds & Norma J. Từ những định nghĩa về BHNT được dé cập trong các công trình kể trên, người viết có thể đánh giá như sau: Một là, những định nghĩa thường đề cập đến bản chất của BHNT theo hướng mô tả kỹ thuật bảo hiểm (đối tượng bảo hiểm và trách nhiệm bảo hiểm) chứ không đề cập BHNT dưới khía cạnh pháp lý là một quan hệ giữa DNBH và bên mua bảo hiểm thể hiện bởi những nghĩa vụ cơ bản của hai bên đối với nhau. Hai là, các định nghĩa chưa làm nỗi bật được tinh chất của BHNT là một dịch vụ thương mại mà bên bảo hiểm cung cấp cho bên mua bảo hiém và những người có liên quan (như người được bảo hiểm và người thụ hưởng). Ba là, các định nghĩa chưa được phân tích để làm rõ những đặc trưng cơ bản của BHNT như phân tích về đối tượng bảo hiểm là tuôi thọ con người, tính đa dạng về sự kiện bảo hiểm và yếu tố tiết kiệm và đầu tư có trong hầu hết các sản phẩm BHNT.
- Về khái niệm sản phẩm BHNT Tiếp cận nghiệp vụ BHNT dưới góc độ là sản phẩm dich vụ do DNBH cung cấp chưa được chú ý trong các tài liệu nghiên cứu. David Bland (1993) trong “Bảo hiểm: Nguyên tắc và Thực hành” [2] cho rằng, bảo hiểm nói chung chắc chắn là một dịch vụ, và việc quan niệm nó là sản phẩm hay không vẫn còn rất mơ hồ và có nhiều tranh luận. Tuy nhiên, quan điểm của David Bland là không chính xác vì mặc dù thuật ngữ “sản phẩm BHNT” không được định nghĩa nhưng được sử dung khá phô biến trong các quy định của pháp luật nhiều quốc gia và ở các công trình nghiên cứu nên không thể coi là có tranh luận về việc sản phẩm BHNT có phải là “sản phẩm” hay không. Về khái niệm sản phẩm nói chung, có thể tìm thấy quan niệm của Bryan A.
Ở trong nước, có thé tìm thấy một vài định nghĩa về sản phẩm BHNT như trong: Nguyễn Văn Định (chủ biên) tại “Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiém’ và Nguyễn Thị Hải Đường (2006) trong “Một số giải pháp phát triển thị trường BHNT ở Việt Nam” đã dẫn nguồn ở trên. Nhìn chung, các tác giả cũng đề cập đến những đặc trưng cơ bản của sản phẩm bảo hiểm với tư cách là một dịch vụ như tính vô hình, tính không bảo hộ độc quyền, v. Tuy nhiên, có một số đặc điểm rất ít giá tri khoa hoc vì sự mo hồ của chúng, ví dụ như tính “không mong đợi”, có “hiệu quả xê dịch”, thậm chí tác giả Nguyễn Tiến Hùng (2005) sill ce cho rằng sản phẩm BHNT còn có “tính khó hiểu” (tham luận đọc tại Hội thao chủ đề H PS "Boi thường trong BHNT - những van đề đặt ra” do Bộ Tài chính tô chức) [46a]. Như vậy, có thể khang định là cho đến thời điểm này, khái niệm sản pham BHNT có nhiều các hiểu khác nhau và dưới giác độ pháp lý, khái niệm này vẫn chưa được xây dựng một cách chuẩn xác dựa vào bản chất của nó với những đặc trưng giúp phân biệt nó một cách rõ ràng với các dịch vụ thương mại khác.
- Về khái niệm hoạt động kinh doanh BHNT Hiện nay, các tài liệu nghiên cứu thường không đề cập đến khái niệm về kinh doanh BHNT mà chỉ dừng lại ở định nghĩa kinh doanh bảo hiểm nói chung, trong đó bao hàm cả về kinh doanh BHNT như Nguyễn Văn Định (2009) trong “Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm” [34]; David Bland (1993) trong “Bảo hiểm: Nguyên tắc và Thực hành" [2] và Hồ Thủy Tiên (2007) trong luận án tiến sỹ kinh tế với đề tài “Phat triển thị trường BHNT Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc té” [82]. Mỗi công trình lại có cách định nghĩa khác nhau như: kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi trên cơ sở chấp nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm; kinh doanh bảo hiểm chính là nghiệp vụ bảo hiểm mà theo đó, kinh doanh bảo hiểm chính là thực hiện các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm bao gồm khai thác bảo hiểm, lưu giữ hồ sơ và giải quyết bồi thường, hoặc bao gồm việc thiết kế sản phẩm, định phí, lập dự phòng và phân phối bảo hiểm. Như vậy là hiện nay, khái niệm kinh doanh BHNT còn có nhiều cách hiểu khác nhau và một số cách tiếp cận chưa thể hiện rõ bản chất của hoạt động kinh doanh BHNT bao gồm những nội dung kinh doanh gì, do đó chưa thấy được mối quan hệ giữa hoạt động cung cấp sản phẩm BHNT và hoạt động đầu tư của DNBH. b) Lý luận về pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Nội dung lý luận về pháp luật kinh doanh BHNT được tập trung vào 3 vấn đề cơ bản là nguyên tắc của pháp luật kinh doanh BHNT, cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT và những yếu tố chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT.
- Về nguyên tắc của pháp luật kinh doanh BHNT Hiện nay, các công trình nghiên cứu hầu như không nghiên cứu về các nguyên tắc pháp luật kinh doanh BHNT, trong khi nội dung lý luận này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc luận giải cấu trúc pháp luật cũng như các nội dung cần phải được ghi nhận trong các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh BHNT. Tuy nhiên, ở từng giác độ cụ thể thì có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đề cập đến hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc tự do kinh doanh được TS.Bủi Ngọc Cường (2004) phân tích khá -9- sâu và toàn diện trong tac phẩm “Một số vấn dé về quyên tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành tại Việt Nam” [27]. Những quan điểm này có thé áp dụng trong phân tích những nội dung về nguyên tắc tự do kinh doanh trong lĩnh vực BHNT.
Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm có một số quan điểm đáng chú ý như: Dominique Ponsot (2010) trong bài tham luận “Bảo vệ người tiêu dùng chống lại các điều khoản lạm dụng” [57] và Takahiro Yasui (2001) trong tác pham “Policyholder Protection Fund: Rationale and Structure” [148]. Qua các công trình kể trên, có thé đánh giá như sau: - Các công trình thường không đề cập cùng một lúc hai nguyên tắc quan trọng của pháp luật kinh doanh BHNT là nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm. - Nội dung của các nguyên tắc chưa được phân tích cụ thể, đặc biệt là nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Đồng thời, các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến việc xây dựng các quy định pháp luật như thế nào để đảm bảo những nguyên tắc này được thực hiện.
- Về cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT Việc nghiên cứu về cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung pháp luật về lĩnh vực này. Đề cập đến vấn đề này có những quan điểm chủ yếu sau: John Birds và Norma J. Jétôme Yeatman (2001) trong “Giáo khoa quốc tế về bảo hiểm" [89] và một số công trình khác. Qua các công trình kể trên, có thể đánh giá là đa số các nghiên cứu thường hướng đến việc xác định nguồn luật điều chỉnh đối với nội dung nhất định của pháp luật về kinh doanh BHNT hon là trả lời câu hỏi pháp luật về lĩnh vực này cần điều chỉnh những nội dung gì.
Nhiều công trình (ví dụ như của Jonh Birds và Norma J.Hird, của Muriel L.Crawford) đã nhìn nhận cấu trúc pháp luật kinh doanh bảo hiểm xuất phat từ mối quan hệ HDBH. Quan điểm của Jérôme Yeatman (2001) có tính hợp lý hơn cả khi tác giả thấy được quan hệ kinh doanh bảo hiểm rộng hơn là quan hệ HĐBH, nhưng tác giả chi coi các quy định điều chỉnh về địa vị pháp lý của DNBH thuộc về nội dung giám sát của nhà nước. Đi sâu vào từng nội dung lý luận về của từng bộ phận trong cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT, có một số công trình đáng chú ý như: - Các ấn phẩm do Hiệp hội quốc tế các nhà giám sát bảo hiểm (IAIS) ấn hành, trong đó đáng chú ý nhất là các an phẩm như: IAIS (2011), Insurance core principles, standards, guidance and assessment methodology [121]; IAIS (2002), Guidance Paper = - 18 on Public Disclosure by Insurers {117}; LAIS (2007), Guidance paper on use of internal models for risks and capital management purposes by insurers |120], v. Nhitng tac phẩm nay là những công trình nghiên cứu mà IAIS đã tông kết nhiều nội dung thực tiễn, từ đó đưa ra quan điểm và khuyến nghị đối với hoạt động giám sát bảo hiểm của các quốc gia thành viên.