CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA NƯƠC NGOÀI LÀM VIỆC THEO HỢP ĐỒNG 1. Khái quát chung về doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài a. Khái niệm Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, việc NLĐ di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để tìm kiếm việc làm đã trở thành một hiện tượng phổ biến.
Hiện tượng này được gọi là lao động di cư quốc tế. Theo Khoản 1- Điều 2- Công ước về bảo vệ quyền của tất cả những NLĐ di trú và gia đình họ năm 1990 của Liên hợp quốc thì “Lao động di trú là thuật ngữ dùng để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân”. Theo pháp luật Việt Nam thì hoàn toàn chưa đề cập đến khái niệm lao động di trú mà chỉ đề cập đến khái niệm “hợp tác quốc tế về lao động”, “XKLĐ” và sau này là khái niệm “NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Đây là những thuật ngữ đã từng được sử dụng trong từng giai đoạn nhất định của hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Việt Nam đã chính thức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài từ năm 1980 và sử dụng thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động” trong các văn bản điều chỉnh hoạt động này. Tại thời điểm này và tương ứng với xu thế thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh đó, “hợp tác quốc tế về lao động” được hiểu là sự liên kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các quốc gia trong việc giải quyết việc làm. Hoạt động này không chỉ mang tính chất kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị và chỉ diễn ra giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhằm thắt 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chặt tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong các tài liệu quốc tế nói chung về lao động ra nước ngoài làm việc (được quan niệm là một hình thức cơ bản của lao động di trú) hầu như không sử dụng thuật ngữ này.
Hoặc nếu được nhắc đến thì lại được hiểu giống như hoạt động hợp tác và phân công lao động quốc tế. Như vậy, thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động” chỉ được sử dụng với nghĩa hẹp và trong phạm vi một số nước xã hội chủ nghĩa cũ. Trên thực tế, hợp tác lao động quốc tế không chỉ bao gồm việc đưa NLĐ trong nước đi làm việc ở nước ngoài, mà còn gồm cả hình thức XKLĐ tại chỗ cũng như việc đưa lao động nước ngoài vào làm việc tại nước mình. Do việc sử dụng thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động” không phản ánh được toàn diện và đầy đủ nội dung của vấn đề này nên khi ký kết hiệp định với các nước, Việt Nam đã có những điều khoản chưa rõ ràng dẫn đến những phức tạp trong quan hệ giữa chúng ta với những nước tiếp nhận lao động.
Ví dụ như, những rắc rối về phương thức thanh toán tiền thuê lao động giữa các chính phủ, khó khăn trong chuyển tiền của NLĐ từ nước ngoài vào Việt Nam. Sau đó, trong một số văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài đã sử dụng thuật ngữ thay thế là “XKLĐ”. Thông thường, thuật ngữ “xuất khẩu” dùng để chỉ hoạt động kinh tế của chủ thể kinh doanh nhằm đưa hàng hoá, tư bản ra nước ngoài hoặc của chủ thể nào đó nhằm phổ biến tư tưởng ra nước ngoài. Việc sử dụng thuật ngữ kép “XKLĐ” do làm nảy sinh quan điểm coi sức lao động là hàng hoá có thể xuất khẩu được và nhiều trường hợp bị hiểu nhầm là NLĐ cũng có thể trở thành hàng hoá xuất khẩu được.
Điều này trái với bản chất của quá trình đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài bởi những chủ thể đưa NLĐ ra nước ngoài được hưởng lợi (lệ phí) từ hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài chứ không phải là hưởng tiền bán NLĐ hoặc bán sức lao động. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thể hiện trong Hiến chương của Tổ chức này thì lao động không phải là loại hàng hoá thông thường mà các chủ thể có thể đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường như những hàng hoá khác. Về mặt bản chất, sức lao động được xem như một loại hàng hoá đặc biệt, nó là tài sản vô hình, tồn tại bên trong NLĐ như là những tài sản đặc định gắn với nhân thân của từng người. Sức lao động của ai sẽ do người đó tự định đoạt và họ là chủ sở hữu hoàn toàn tự do trước các chủ thể khác có nhu cầu trong xã hội.
Ngay cả nhà nước cũng chỉ có thể ra mệnh lệnh buộc công dân của mình phải thực hiện nghĩa vụ lao động chứ không thể trưng thu hoặc quốc hữu hoá sức lao động của công dân được. Từ sự phân tích trên, các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra đề xuất là không nên sử dụng cụm từ “XKLĐ” mà thay vào đó nên sử dụng cụm từ “đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài”. Điều này vừa đảm bảo được tính khoa học của thuật ngữ tiếng Việt, vừa phù hợp với bản chất và vai trò của hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Thuật ngữ “đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài” được sử dụng chính thức lần đầu tiên trong nghị định số 270/HĐBT ngày 09/11/1991, ban hành quy chế về đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Đây cũng là văn bản pháp luật quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật trong lĩnh vực này. Sau đó, BLLĐ năm 1994 được ban hành đã sử dụng thuật ngữ “đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” và được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật của nhà nước ta từ những năm 1990 đến nay. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là một thứ hàng hóa đặc biệt, không chỉ được tự do thuê mướn ở trong nước mà c ̣òn có thể chuyển dịch ra nước ngoài với mục đích kinh tế, nhằm thu ngoại tệ về cho Việt Nam. Hiện nay, trong Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cụm từ “XKLĐ” đã chính thức 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được thay thế bằng cụm từ “đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có định nghĩa “NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là NLĐ đi làm việc ở nước ngoài) là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận NLĐ, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này.” Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng không đưa ra khái niệm về DN hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài song theo các quy định của Luật này, có thể hiểu đây là các chủ thể kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực dịch vụ việc làm nhằm đưa NLĐ Việt Nam ra nước ngoài làm việc trên cơ sở sự thỏa thuận bằng văn bản. Các chủ thể kinh doanh này “phải có vốn pháp định theo quy định của Chính phủ và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài” [24, Điều 8]. Các DN có đủ điều kiện được cấp phép sẽ tiến hành tìm kiếm các ứng viên phù hợp để giới thiệu cho các đối tác nước ngoài đang có nhu cầu tuyển lao động, sau đó đào tạo định hướng hoặc dạy nghề cho NLĐ, tiến hành các thủ tục cần thiết để giúp NLĐ xuất cảnh khỏi Việt Nam, nhập cảnh vào nước tiếp nhận lao động. Kết quả của hoạt động này là các quan hệ lao động được hình thành giữa NLĐ Việt Nam và DN, cá nhân nước ngoài là người sử dụng lao động theo hợp đồng lao động được ký trực tiếp giữa các bên.
Tuy nhiên, do hoạt động dịch vụ cung ứng lao động giữa nhà trung gian cung ứng lao động Việt Nam và đối tác nước ngoài có nhu cầu tuyển dụng lao động chịu sự điều chỉnh chủ yếu của các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia đó nên tạm thời chưa được đề cập trong phạm vi của đề tài này. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Theo Điều 6 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì các hình thức mà NLĐ Việt Nam có thể đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là: 1. Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với DN hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; 2.
Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với DN trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; 3. Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với DN đưa NLĐ đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; 4. Hợp đồng cá nhân. Theo đó, ngoài các DN được phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài thì còn có các DN trúng thầu, nhận thầu hoặc đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề hoặc theo hợp đồng cá nhân.
Hình thức đưa NLĐ Việt Nam đi nước ngoài làm việc theo hợp đồng với DN hoạt động dịch vụ này là trường hợp các tổ chức kinh tế Việt Nam được phép tuyển dụng lao động Việt Nam để đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cung ứng lao động. Hình thức này tương đối phổ biến, được thực hiện rộng rãi trong các năm vừa qua và những năm tới.