5 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƢỜNG ĐẠI HOC LÂM NGHIỆP ***************** TRẦN QUỐC HOÀN NGHIÊN CỨU PHÂN VÙNG LẬP ĐỊA PHỤC VỤ CHO SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP TẠI TỈNH BÌNH PHƢỚC LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP HÀ NỘI - 2014 6 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƢỜNG ĐẠI HOC LÂM NGHIỆP ***************** TRẦN QUỐC HOÀN NGHIÊN CỨU PHÂN VÙNG LẬP ĐỊA PHỤC VỤ CHO SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP TẠI TỈNH BÌNH PHƢỚC Chuyên ngành: Lâm sinh Mã số: 62620205 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP HƢỚNG DẪN KHOA HỌC 1.TS Vƣơng Văn Quỳnh 2. Đỗ Xuân Lân HÀ NỘI - 2014 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Lập địa và yếu tố cấu thành lập địa lâm nghiệp - Ở Liên Xô, lập địa đƣợc gọi là điều kiện nơi sinh trƣởng, nghĩa là tác động tổng hợp của các yếu tố ngoại cảnh hình thành nên các kiểu rừng nhất định và ảnh hƣởng trực tiếp tới sinh trƣởng của thực vật rừng [61]. - Ở Đức, lập địa đƣợc hiểu là một phạm vi địa bàn nhất định với tất cả những yếu tố ngoại cảnh ảnh hƣởng đến sự sinh tƣởng của cây cối.Schwanecker (1971), trên cở sở thuyết lâm hình của Suchaev (1958) đã đƣa ra khái niệm cụ thể về lập địa nhƣ sau [34], [85]: * Các yếu tố tĩnh: Sinh thái cảnh - Khí hậu. (lập địa theo - Địa hình nghĩa hẹp) Sinh địa quần Sinh địa - Đất thể tự nhiên quần thể * Các yếu tố động: Quần thể sinh vật (lập địa theo tác nhân - Thế giới động vật nghĩa rộng) - Thế giới thực vật - Thế giới sinh vật * Các yếu tố tác nhân: Xã hội con ngƣời - Ở Mỹ, D.
Pogrebnhiac (Ucraina) đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định các kiểu rừng dựa trên hai yếu tố chính là độ phì và độ ẩm của đất. Trong khi đó Blaglovidop và Buadop (1958), Tretop (1981) thì nền lập địa ở vùng Sankt-Peterburg lại đƣợc phân chia dựa vào các yếu tố: đá mẹ hình thành đất, địa hình và chế độ thoát nƣớc. Tretop trong quá trình nghiên cứu còn bổ 8 sung thêm tiêu chuẩn phân chia lập địa là kiểu mùn vì ông cho rằng kiểu mùn phản ánh quá trình hình thành và phát triển độ phì đất rừng [46],[48],[49], [61].2 Hệ thống cấp phân vị lập địa lâm nghiệp Mỗi quốc gia có điều kiện tự nhiên, trình độ khoa học kỹ thuật, mục đích kinh doanh khác nhau nên đã xây dựng cho mình những hệ thống cấp phân vị lập địa khác nhau để phục vụ cho việc phân loại và đánh giá lập địa, trong đó: - Ở Đức, ngành lâm nghiệp đã đƣa ra một phƣơng pháp điều tra lập địa tổng hợp phục vụ sản xuất lâm nghiệp, đã thống nhất phƣơng pháp nghiên cứu phân kiểu lập địa và phƣơng pháp phân vùng lập địa. Tổng kết kinh nghiệm sử dụng phƣơng pháp này; Friedler, Neber và Hunger (1982) đã đƣa ra bốn cấp phân vị lập địa đồng thời so sánh với 4 cấp phân vị cảnh quan và 4 cấp phân vị khí hậu, gồm: Cấp vùng sinh trƣởng tƣơng đƣơng với cấp đại cảnh quan và cấp vùng khí hậu.
Cấp khu sinh trƣởng tƣơng đƣơng với cấp cảnh quan và cấp khu khí hậu. Cấp phạm vi bức khảm tƣơng đƣơng với cấp bộ phận cảnh quan và cấp dạng đại khí hậu. Cấp dạng lập địa tƣơng đƣơng với cấp cảnh quan cơ sở và cấp dạng khí hậu địa hình [34], [46], [49]. - Ở Liên Xô, Blaglovidop và Buadop (1959), Tretop (1981) khi phân chia ĐKLĐ có đặc điểm thoát nƣớc kém ở (Sankt Peterburg) đã xác định hệ thống phân loại lập địa theo 3 cấp, gồm: (1) Nhóm lập địa dựa vào đặc điểm thoát nƣớc để phân chia.
(2) Nhóm phụ lập địa dựa vào điều kiện thoát nƣớc và đá mẹ hình thành đất để phân chia. (3) Kiểu lập địa dựa vào cả đá mẹ hình thành đất, địa hình và chế độ thoát nƣớc để phân chia. Pogrebnhiac (1968), cho rằng kiểu lập địa bao gồm mọi khu đất có điều kiện đất đai giống nhau, dựa vào độ phì và độ ẩm của đất đã phân lập đƣợc 24 kiểu lập địa. Tùy điều kiện cụ thể, một kiểu lập địa còn có thể chia thành các kiểu phụ dựa vào sự khác nhau về độ pH hay thành các biến chủng nếu khác nhau về đá lẫn, thành phần cơ giới [19], [52], [61].
- Ở Trung Quốc: Năm 1993, khi phân vùng lập địa phía Đông Bắc, Dƣơng Kế Cảo đã xác lập hệ thống cấp phân vị lập địa có 6 cấp, gồm: Khu lập địa. Á khu lập địa phân chia theo sự khác nhau về khí hậu. Tiểu khu lập địa phân chia 9 theo đia mạo và nham thạch. Nhóm kiểu lập địa phân chia theo độ cao và độ dốc.
Kiểu lập địa phân chia theo độ dày tầng đất, thành phần cơ giới. Kiểu phụ lập địa phân chia theo độ dày tầng đất mặt, độ pH và mực nƣớc ngầm [46], [48], [49].3 Các phƣơng pháp phân loại lập địa lâm nghiệp a) Khái niệm về kiểu lập địa Theo Pogrepnhiac (1968), kiểu lập địa bao gồm mọi khu đất có điều kiện đất đai giống nhau kể cả nơi có rừng và nơi không có rừng; khi điều kiện đất đai giống nhau sẽ dẫn tới khả năng xuất hiện các quần xã thực vật giống nhau. b) Các phương pháp phân loại lập địa lâm nghiệp Tổng quát chung về phân loại lập địa thì ở các nƣớc thƣờng sử dụng một số phƣơng pháp sau: - Áp dụng chỉ tiêu sinh trƣởng của cây rừng để đánh giá và phân loại lập địa: Các chỉ tiêu sinh trƣởng đƣợc áp dụng chủ yếu là cấp lập địa, chỉ số lập địa và sai số sinh trƣởng, trong đó: (1) Cấp lập địa là một chỉ tiêu đo lƣờng tƣơng đối, phản ánh sức sản xuất của đất rừng, thƣờng đƣợc xác định bởi tƣơng quan giữa chiều cao bình quân và cấp tuổi, để từ đó chia ra các loại lập địa. Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng ở Liên Xô từ năm 1950.
(2) Chỉ số lập địa, ngƣời ta cho rằng độ cao ƣu thế của một loài cây ở một tuổi chuẩn có quan hệ với sức sản xuất của lập địa mật thiết hơn so với độ cao bình quân. Đồng thời cũng chịu ảnh hƣởng của mật độ và tổ thành loài cây nhỏ nhất. Phƣơng pháp này đƣợc Trung Quốc, Mỹ, Anh ứng dụng từ năm 1970 [43]. Sajjaduzzaman và cộng sự (2005) áp dụng tại Bangladesh để phân loại lập địa cho rừng Tếch [96].
(3) Sai số sinh 10 trƣởng đƣợc lựa chọn để nghiên cứu chất lƣợng lập địa ở thời kỳ sinh trƣởng của rừng non. Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc áp dụng tạm thời. - Ứng dụng đặc trƣng của tổ thành, cấu trúc thực vật rừng: tổ thành, cấu trúc, sinh trƣởng của cây rừng có quan hệ mật thiết với ĐKLĐ. Ở Đức (1946) và ở Mỹ (1952) đã dùng nhóm loài sinh thái để biểu thị đặc trƣng lập địa và đƣa ra hệ thống phân loại lập địa.
Một số tác giả cho rằng ở nhƣng nơi sự tác động của con ngƣời tƣơng đối ít nên dùng thực bì để biểu thị đặc điểm lập địa thì hiệu quả hơn [43]. Ở Đài Loan, Chyi-Ty L và cộng sự (2004) đã phân loại lập địa cho một vùng đồi núi rộng dựa trên bản đồ sinh thái và dữ liệu địa mạo sẵn có [88]. - Áp dụng nhân tố hoàn cảnh: Phƣơng pháp này thƣờng sử dụng những nhân tố hoàn cảnh vật lý có tính ổn định, có quan hệ mật thiết với sinh trƣởng của cây rừng để phân chia lập địa, nhƣ: (1) Khí hậu là căn cứ để chia ra các vùng lập địa, đai lập địa và khu lập địa để làm đơn vị phân chia trong hệ thống phân loại lập địa. Cùng một vùng khí hậu thì điều kiện đại khí hậu giống nhau, sự khác nhau về tiểu khí hậu là do địa hình và đất khác nhau.
(2) Địa hình là một trong những căn cứ để phân loại lập địa. Trong điều kiện khí hậu và đất tƣơng đối đồng nhất và địa hình phức tạp thì địa hình chiếm một địa vị rất quan trọng trong phân loại lập địa. Smalle (1979) đã căn cứ vào địa mạo để phân chia đơn vị lập địa tại vùng cao nguyên Comberland của Mỹ. Tuy nhiên mỗi đơn nguyên còn phải mô tả độ phì của đất, cây chỉ thị và chỉ số lập địa của một số loài cây chủ yếu.
Phƣơng pháp này không phù hợp với những nơi có điều kiện địa hình đơn giản và bằng phẳng. (3) Trong điều kiện khí hậu tƣơng đối đồng đều thì nhân tố đất là căn cứ quan trọng để phân chia lập địa. Các học giả Nhật bản đã áp dụng hệ thống phân loại đất của Mỹ, của UNESCO và phƣơng pháp nghiên cứu mối qua hệ giữa đất và lập địa để tiến hành phân loại đất và lập địa ở các bờ sông của Philippines [43]. - Áp dụng phƣơng pháp tổng hợp đa nhân tố: Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng rộng rãi bằng cách lấy chỉ số lập địa là một hàm số và các nhân tố lập địa làm biến số và xây dựng một hàm hồi quy đa nhân tố để tiến hành đánh giá và 11 phân loại lập địa.
Ở các nƣớc Đức, Canada và Trung Quốc đã vận dụng phƣơng pháp này để phân loại lập địa [43]. Nghiên cứu quan hệ giữa đặc điểm đất đai với cây rừng để định ra điều kiện lập địa [24].4 Thảm thực vật và kiểu rừng - Trochain (1954) cho rằng kiểu thảm thực vật là tập thể cây cỏ lớn đem lại một hình dạng đặc biệt cho cảnh quan do sự tập hợp của những cây cỏ khác loài nhƣng cùng chung một dạng sống ƣu thế [19]. - Theo Môrôdôp (1904) thì kiểu rừng là một tập hợp các lâm phần có sự đồng nhất về điều kiện mọc hoặc điều kiện đất đai. Khi phân loại các kiểu rừng phải đặt chúng theo các vùng địa lý.
Các kiểu rừng đƣợc phân ra hai nhóm, gồm: (1) Nhóm kiểu rừng cơ bản là những lâm phần đƣợc xuất hiện do kết quả tiến hóa lâu dài của đất và thảm thực vật rừng. (2) Nhóm kiểu thứ sinh là những lâm phần đƣợc xuất hiện dƣới ảnh hƣởng của các nhân tố bên ngoài ở nơi mọc của kiểu rừng cơ bản với sự thay đổi thành phần loài cây. Theo Pogrepnhiac (1950) thì kiểu rừng là một đơn vị thống nhất giữa các loài thực vật, động vật và hoàn cảnh xung quanh.