ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nƣớc ta, không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà rừng còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng. Trong đó, thực vật rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có một hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Theo các tài liệu công bố gần đây, thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam có thể lên tới 12.
Ngoài ra rừng còn đóng góp một lƣợng lớn tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ, trong đó nhóm cây thuốc chiếm tỷ lệ rất lớn.000 loài cây đƣợc sử dụng làm thuốc, thì có thể nói rằng Việt Nam có sự đa dạng rất lớn về tài nguyên cây thuốc. Việt Nam là một nƣớc đang phát triển, mọi mặt đời sống của ngƣời dân đƣợc nâng cao, cùng với đó là tỷ lệ ngƣời dân mắc các bệnh mãn tính nhƣ: thấp khớp viêm gan, đau lƣng,. ngày càng tăng. Tuy nhiên hiện nay ngƣời dân có xu hƣớng quay trở về với cây thuốc và thuốc có nguồn gốc thiên nhiên tạo ra hơn hóa chất làm thuốc.
Với công nghệ tiên tiến và trình độ chuyên môn cao nhiều loại thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ đã đƣợc bào chế mang lại hiệu quả chữa bệnh cao, thúc đẩy xu hƣớng sử dụng cây thảo dƣợclàm thuốc ngày càng phát triển. Thế nhƣng, đi cùng xu hƣớng sử dụng thảo dƣợc làm thuốc là sự suy kiệt các loài cây này do khai thác tràn lan và không có kế hoạch bảo tồn. Trong đó có loài Thổ phục linh (Smilax grabra Wall.ex Roxb)là loài đang bị đe dọa và sắp nguy cấp vì sự sụp giảm nhanh chóng về số lƣợng do khai thác mạnh những năm gần đây. Vì vậy, nhằm góp phần làm cơ sở để phát triển và bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý này, em đã chọn tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Thổ phục linh (Smilax grabra Wall.ex Roxb) ở VQG Ba Vì” với mong muốn góp phần bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học của VQG Ba Vì nói riêng và Việt Nam nói chung.
1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm sinh thái Theo cuốn Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (2015): Tên thông thƣờng:Thổ phục linh Tên khác: Khúc khắc, Dây chắt, Dây khum, Cậm cù,. Tên khoa học: Smilax grabra Wall.ex Roxb Họ Kim cang (Smilacaceae) Thổ phục linh là loài cây sống lâu năm, dài 4 - 5 m, có nhiều tua cuốn dài. Lá hình trái xoan thuôn, phía dƣới tròn dài từ 5 - 13 cm, rộng 3 - 7 cm, chắc cứng hơi mỏng, có 3 gân nhỏ từ gốc và nhiều gan gân con.Hoa mọc thành tán 20 - 30 hoa.
Cuống chung chỉ ngắn 2 mm, cuống riêng dài hơn khoảng 10 mm hoặc hơn. Quả mọng hình cầu, đƣờng kính 6 - 7 mm, có 3 hạt Hình 1.1: Thổ phục linh tại VQG Ba Vì (Nguồn: Triệu Càn Sếnh 2019) Bộ phận sử dụng: Rễ củ, phơi hay sấy khô Thành phần hoa học: Rễ củ chứa nhiều tinh bột và có β-sitosterol, smilax saponin, tigogenin. 2 Công dụng: Thƣờng dùng chữa tiêu hóa không bình thƣờng, đau bụng ỉa chảy; Viêm thận, viêm bàng quang; Phong thấp, viêm khớp, đòn ngã tổn thƣơng; Lơ ngứa, viêm mủ da, giang mai. Khai thác, chế biến và bảo quản: Thu hái quanh năm tốt nhất vào mùa Thu đông.
Chế biến: Đào lấy thân rễ, loại bỏ rễ con và tua gai, rửa sạch, phơi, sấy khô hoặc đang lúc tƣơi, thái lát mỏng, phơi hoặc sấy khô. Có thể ủ mềm 2 - 3 ngày, thái mỏng, phơi hay sấy khô Bảo quản: Nơi khô ráo thoáng mát, tránh mối mọt dính.Lịch sử nghiên cứu vàbảo tồn cây thuốc trên thế giới Từ khi con ngƣời ra đời, loài ngƣời đã biết dựa vào rừng để sống. Không chỉ lấy ra từ rừng lƣơng thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con ngƣời còn rừng làm rau ăn, nấu nƣớc uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh. Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới đã phát triển những phƣơng thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và công dụng của chúng trở nên ý nghĩa.
Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trƣng riêng. Theo con số thống kê, khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phƣơng pháp y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ. Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài là đƣợc sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đất nƣớc này.
Ở Ghana, Mal, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu đƣợc điều trị tại chỗ bằng thảo dƣợc. Tỷ lệ dân số tin tƣởng vào hiệu quả sử dụng thảo dƣợc và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng đang tăng nhanh ở các quốc gia phát triển. Ở Châu Âu, Bắc Mỹ, và một số nƣớc khác, ít nhất 50% dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế từ thảo mộc. Ở Đức, 90% dân số sử dụng các phƣơng thuốc có nguồn gốc thiên nhiên 3 để chăm sóc sức khỏe.
Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại thuốc thay thế từ thảo mộc là 230 triệu đôla. Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con ngƣời trong việc chăm sóc sức khỏe ngày một tăng, nhƣng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm. Nhiều loại thực vật bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con ngƣời. Theo tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này lƣu giữ thông tin tới 30.000 loài đƣợc coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau.
Trong đó có nhiều loài là cây thuốc quý hiếm, có giá trị kinh tế cao. Chẳng hạn nhƣ ở Bangladesh, một số cây thuốc quý nhƣ Tylophora indicia để chữa hen, Zania indicia (thuốc tẩy xổ). trƣớc đây mọc rất phổ biến, nay đã trở nên hiếm hoi, Loài Ba gạc (Rauvotfila serpentina) vốn mọc rất tự nhiên ở Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan. mỗi năm có thể khai thác hàng ngàn tấn nguyên liệu xuất khẩu sang thị trƣờng Âu, Mỹ làm thuốc chữa cao huyết áp.
Tuy nhiên, do bị khai thác liên tục nhiều năm nên nguồn gốc cây thuốc này đã bị cạn kiệt. Vì vậy một số bang Ấn Độ đã chỉ khai thác loài Ba gạc này. Ở Trung Quốc, loài Tử (Dioscorea sp.) đã từng trữ lƣợng lớn và từng đƣợc khai thác tới 30.000 tấn, nhƣng hiện nay số lƣợng bị giảm đi rất nhiều, có loài đã phải trồng lại. Một vài loại cây thuốc dân tộc quỷ nhƣ Fritillaria cirrhosa làm thuốc ho, phân bổ nhiều ở vùng Tây bắc tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn có ở 1 đến 2 điểm với số lƣợng ít ỏi.
Nguyên nhân gây nên sự suy giảm nghiêm trọng về mặt số lƣợng của các loài cây thuốc trƣớc hết là do sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên dƣợc liệu và do môi trƣờng sống của chúng bị hủy diệt bởi các hoạt động của con ngƣời Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới nhƣng lại bị tàn phá nhiều nhất. Theo số liệu của tổ chức Nông Lƣơng(FAO của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940–1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ƣớc tính khoảng 75.000 hecta rừng bị phá hủy. 4 Trong thế kỷ 21, với mục đích phục vụ sức khỏe con ngƣời, sự phát triển của xã hội, chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông Y với Tây Y, giữa học hiện đại và Y học cổ truyền của các dân tộc. Chính những kinh nghiệm của các dân tộc chính là chìa khóa giúp chúng ta khám phá ra nhiều loại thuốc mới cho tƣơng lai.
Chính vì điều đó mà việc bảo tồn, khai thác và phát triển các loài cây thuốc cần đƣợc chú ý quan tâm. Tình hình nghiên cứuvà bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam. Cùng với sự tiến hóa của lịch sử, nền Y học cổ truyền Việt Nam gắn liền với kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhân dân cũng dần phát triển, nổ gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng đƣơng thời. Lƣơng y Tuệ Tĩnh trong cuốn “Nam Dƣợc Thần Hiệu” và “Hồng Nghĩa Giác Tƣ Y Thƣ” đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn.
Hai cuốn sách này đƣợc xem là những cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam. Đời nhà Trần có Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hƣng Đạo Vƣơng Trần Quốc Tuấn, thu thập trông nom một vƣờn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sĩ, gọi là “Sơn dƣợc”, nay vẫn còn di tích tại xã Hƣng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Đến thế kỷ 18, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tống Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về các loài thực vật, các đặc tính chữa bệnh. Thời kỳ Pháp thuộc (1884 - 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam chịu nhiều ảnh hƣởng của dƣợc học phƣơng Tây.
Bộ sách “Danh mục các sản phẩm ở Đông Dƣơng” của C.Pétélot năm 1935 đã thống kê đƣợc 1.340 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc đƣợc dùng trong y học của Đông Dƣơng.Đến năm 1993 Nguyen Van Duong xuất bản cuốn “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” với 524 trang và thống kê khoảng 1.480 loài thực vật. Tuy nhiên cuốn sách này chƣa hoàn thiện về mô tả, phân bố, thành phần hóa học và dƣợc lý của các loại thảo mộc. Năm 1957, Hội Đông Y Việt Nam (nay là hội Y học Cổ truyền Việt Nam) đƣợc thành lập, lãnh đạo các lƣơng y làm nghề chữa bệnh trong nhân dân. Cũng 5 trong năm này, Viện nghiên cứu Đông Y (nay là viện Y học Cổ truyền Việt Nam) với mục tiêu chỉ đạo các bệnh viện Y học dân tộc và các tỉnh, kết hợp giữa Y học cổ truyền với Y học hiện đại từ trung ƣơng đến cơ sở.