Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là nhóm cây dược liệu, giữ vị trí quan trọng trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam. Theo thống kê tài liệu thực vật học, hệ thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam có thể lên tới 12.000 loài, trong đó tài nguyên cây thuốc chiếm tỷ lệ đáng kể với hàng ngàn loài được ứng dụng trong y học cổ truyền và công nghiệp dược liệu. Xu hướng sử dụng thuốc và các chế phẩm có nguồn gốc tự nhiên gia tăng trong xã hội hiện đại đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, thiếu quy hoạch, khiến nhiều loài thảo dược quý rơi vào trạng thái suy thoái nghiêm trọng.
Loài Thổ phục linh (Smilax grabra Wall.ex Roxb), tên gọi khác là Khúc khắc, Dây chắt, Dây khum, Cậm cù, thuộc họ Kim cang (Smilacaceae), là cây thuốc lâu năm có giá trị chữa trị các bệnh phong thấp, đau nhức xương khớp, viêm thận, viêm bàng quang, tiêu chảy và mụn nhọt. Nguồn hoạt chất sinh học trong rễ củ Thổ phục linh (chứa nhiều tinh bột, β-sitosterol, smilax saponin, tigogenin) làm gia tăng nhu cầu thu hái, đẩy loài này vào diện bị đe dọa và có nguy cơ suy thoái số lượng cá thể trong tự nhiên. Tại Vườn Quốc gia (VQG) Ba Vì (Hà Nội), mặc dù công tác quản lý bảo vệ rừng được triển khai thường xuyên, song các nghiên cứu chuyên sâu về phân bố sinh thái học của Thổ phục linh làm căn cứ bảo tồn nguồn gen vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Do đó, khóa luận tốt nghiệp được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu định lượng về đặc tính phân bố và cấu trúc quần xã thực vật liên quan.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Mục tiêu chung: Bổ sung cơ sở dữ liệu về loài Thổ phục linh tại khu vực nghiên cứu, góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển các nguồn gen thực vật rừng quý hiếm tại Vườn Quốc gia Ba Vì.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định vị trí phân bố và tọa độ xuất hiện của loài Thổ phục linh tại khu vực điều tra.
- Xác định một số đặc điểm lâm phần nơi loài phân bố, bao gồm tổ thành tầng cây cao, tầng cây tái sinh và tầng cây bụi thảm tươi.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý, gây trồng, sử dụng và bảo tồn loài tại VQG Ba Vì.
- Đề xuất các nhóm giải pháp khả thi về quản lý, chính sách và kỹ thuật lâm sinh nhằm bảo tồn và phát triển loài cây này tại địa phương.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố không gian và sinh thái của loài Thổ phục linh tại VQG Ba Vì.
- Đo đếm, phân tích đặc điểm sinh trưởng và vật hậu của các cá thể Thổ phục linh gặp ngoài thực địa.
- Đánh giá thực trạng bảo tồn và các yếu tố tác động đến nguồn tài nguyên Thổ phục linh.
- Xây dựng ma trận SWOT và đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây Thổ phục linh (Smilax grabra Wall.ex Roxb).
- Phạm vi không gian: Các tuyến khảo sát thực địa cắt qua các sinh cảnh rừng thứ sinh phục hồi từ đai cao 200m đến 800m tại VQG Ba Vì, Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra thực địa được thu thập trong năm 2019.
Cơ sở khoa học và phương pháp điều tra lâm học
Cơ sở lý luận và phân loại học của khóa luận dựa trên các công trình nghiên cứu hệ thực vật và dược liệu học Việt Nam đã công bố, bao gồm: "Từ điển cây thuốc Việt Nam" của Võ Văn Chi (2012, 2015), "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của Đỗ Tất Lợi (1999), các tài liệu của Viện Dược liệu (1993, 2004), Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005), cùng nghiên cứu sinh thái học loài Thổ phục linh của Đặng Kim Vui và cộng sự (2012) tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Về cấu trúc lâm phần, tác giả vận dụng các nguyên lý lâm học thực địa để xác định công thức tổ thành tầng cây cao và cây tái sinh thông qua hệ số tổ thành cá thể.
Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra xã hội học và điều tra sinh thái lâm học:
- Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc đối với 15 cá nhân am hiểu địa bàn, gồm cán bộ kiểm lâm VQG Ba Vì và các hộ dân có nghề bốc thuốc gia truyền tại xã Tản Lĩnh (huyện Ba Vì), nhằm thu thập thông tin về tên địa phương, công dụng chữa bệnh, lịch sử khai thác và khoanh vùng sơ bộ các khu vực xuất hiện loài.
- Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 3 tuyến khảo sát đại diện qua các trạng thái rừng và đai cao khác nhau:
- Tuyến 1: Tuyến đường vào động Ngọc Hoa (đai cao cốt 400m), tọa độ bắt đầu E00435430 - N02331734, kết thúc tại E00435801 - N02331619.
- Tuyến 2: Tuyến du lịch vườn hoa Dã quỳ (đai cao cốt 400m), tọa độ bắt đầu E00435430 - N02331734, kết thúc tại E00435801 - N02331619.
- Tuyến 3: Tuyến lên nhà thờ đổ (đai cao cốt 800m), tọa độ bắt đầu N02330799 - E00434216, kết thúc tại N02330764 - E00434217.
Dọc theo tuyến, cự ly khoảng 200m tiến hành rẽ sang trái hoặc phải khoảng 500m để mở rộng phạm vi tìm kiếm cá thể; định vị điểm gặp bằng thiết bị GPS cầm tay, đo độ dốc bằng địa bàn.
- Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Tại các vị trí phát hiện Thổ phục linh, thiết lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình có diện tích 500 m² (kích thước 25m x 20m), cạnh dài đặt song song với đường đồng mức, đảm bảo tính đồng nhất về hoàn cảnh rừng:
- OTC 01: Diện tích 500 m², độ cao 371m, tọa độ E00435801 - N02331619, trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt.
- OTC 02: Diện tích 500 m², độ cao 327m, tọa độ E00435430 - N02331734, trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt.
- OTC 03: Diện tích 500 m², độ cao 385m, tọa độ E00435430 - N02331734, trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt.
- Phương pháp đo đếm lâm học:
- Điều tra cây tầng cao: Đo đếm toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) từ 6 cm trở lên; đo $D_{1.3}$ bằng thước kẹp kính theo hai chiều vuông góc (Đông - Tây và Nam - Bắc); đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo cao Blum-Leiss hoặc ước lượng mục trắc khi địa hình hiểm trở; đo đường kính tán ($D_{tán}$).
- Tính toán tổ thành lâm phần: Tính số cây bình quân của một loài ($X_{TB} = N / a$, với $N$ là tổng số cây, $a$ là tổng số loài). Những loài có số cá thể lớn hơn $X_{TB}$ được đưa vào công thức tổ thành với hệ số $K_i = (X_i / N) \times 10$.
- Điều tra cây tái sinh và thảm tươi: Trong mỗi OTC 500 m², bố trí 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 20 m² (5m x 4m) tại 4 góc và vị trí trung tâm. Điều tra cây tái sinh ($D_{1.3} < 6$ cm) theo các cấp chiều cao (<0,5m; 0,5 - 1m; >1m), nguồn gốc (chồi hoặc hạt) và phẩm chất (tốt, trung bình, xấu). Tầng cây bụi thảm tươi được đánh giá theo thành phần loài ưu thế, chiều cao bình quân và tỷ lệ che phủ (%).
- Xử lý số liệu: Số liệu thực địa được số hóa, tổng hợp và tính toán các chỉ tiêu mật độ, tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa các đặc điểm sinh học, dược lý học của loài Thổ phục linh và tổng quan các nghiên cứu liên quan trong nước cũng như quốc tế:
- Đặc điểm thực vật học và công dụng: Thổ phục linh là dạng dây leo thân gỗ sống nhiều năm, thân dài 4 - 5m, mang nhiều tua cuốn mảnh. Lá mọc so le, hình trái xoan thuôn, gốc lá tròn, kích thước phiến lá dài 5 - 13 cm, rộng 3 - 7 cm, chất lá cứng dai, có 3 gân chính nổi rõ từ cuống cùng mạng gân con chằng chịt. Hoa đơn tính khác gốc, mọc thành tán đơn ở nách lá với 20 - 30 hoa; cuống tán chung ngắn khoảng 2 mm, cuống hoa riêng dài khoảng 10 mm. Quả mọng hình cầu, đường kính 6 - 7 mm, khi chín chứa 3 hạt. Thân rễ nạc phình thành củ, chứa hàm lượng tinh bột cao cùng các hợp chất saponin steroid (smilax saponin, tigogenin, β-sitosterol). Dược liệu thu hái thân rễ phơi khô, được chỉ định trong điều trị phong thấp tê đau, đau nhức xương khớp, tiêu chảy, viêm đường tiết niệu, giải độc thủy ngân và trị giang mai.
- Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Tác giả dẫn chứng báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và IUCN cho thấy khoảng 80% dân số các nước đang phát triển phụ thuộc vào y học cổ truyền. Tình trạng suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc diễn ra trên diện rộng do mất môi trường sống và khai thác quá mức; IUCN ghi nhận khoảng 30.000 loài thực vật đứng trước nguy cơ đe dọa tuyệt chủng. Nhiều loài dược liệu nổi tiếng bị cạn kiệt nguồn tự nhiên như Ba gạc (Rauvolfia serpentina) tại Ấn Độ, các loài Dioscorea sp. và Fritillaria cirrhosa tại Trung Quốc.
- Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại Việt Nam: Trình bày tiến trình lịch sử nghiên cứu y dược học cổ truyền từ thời Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác, qua thời kỳ khảo cứu của C. Pétélot (1935), sự ra đời của Viện Dược liệu (1961), đến các công trình tổng hợp hệ thống của Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi, Nguyễn Nghĩa Thìn, Trần Văn Ơn. Riêng với Thổ phục linh, một số công trình đã đề cập đến kỹ thuật nhân giống hoặc sinh thái học tại Thái Nguyên (Đặng Kim Vui và cộng sự, 2012), tuy nhiên tại VQG Ba Vì chưa có đề tài nào khảo sát chi tiết đặc điểm phân bố không gian và lâm phần của loài.
Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày cụ thể cơ cấu tổ chức nghiên cứu thực địa, trang thiết bị kỹ thuật sử dụng (máy định vị GPS, thước kẹp kính chuyên dụng, thước đo cao Blum-Leiss, địa bàn cầm tay, thước dây, máy ảnh khảo sát) và thiết kế hệ thống mẫu biểu điều tra (từ Mẫu biểu 01 đến 04). Chương này mô tả chi tiết phương pháp bố trí tuyến điều tra xuyên cắt qua các đai cao và sinh cảnh, kỹ thuật định vị 3 OTC diện tích 500 m² và hệ thống 5 ODB diện tích 20 m² trong mỗi OTC. Đồng thời, chương 2 chuẩn hóa các công thức toán học lâm sinh phục vụ xử lý mật độ cá thể trên một hecta ($N/ha = N_0 \times 10000 / S_0$) và công thức xác định hệ số tổ thành tầng cây cao, cây tái sinh.
Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
Chương này phân tích toàn diện các yếu tố địa lý, môi trường sinh thái và nhân sinh tại VQG Ba Vì:
- Vị trí địa lý và quy mô: Tọa độ địa lý từ 20°55' đến 21°00' vĩ độ Bắc và 105°18' đến 105°30' kinh độ Đông; nằm trên khối núi Ba Vì thuộc địa giới hành chính huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội) và hai huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình), tổng diện tích tự nhiên là 10.814,6 ha.
- Địa hình và địa mạo: Khối núi trung bình và núi thấp dạng bán sơn địa nổi bật giữa đồng bằng Bắc Bộ, gồm hai dải dông chính: dải Đông - Tây dài 9 km và dải Tây Bắc - Đông Nam dài 11 km. Vườn sở hữu các đỉnh núi cao trên 1000m như Đỉnh Vua (1296m), Đỉnh Tản Viên (1227m), Đỉnh Ngọc Hoa (1131m), Đỉnh Viên Nam (1081m). Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc bình quân 25°, từ đai cao 400m trở lên độ dốc đạt 35° kèm nhiều vách đá lộ đầu, gây cản trở việc tuần tra, tiếp cận thực địa.
- Địa chất và thổ nhưỡng: Khu vực phân hóa thành 4 nhóm tuổi địa chất, gồm đá cổ Tiền Cambri, đá Đại Cổ sinh ở phía Nam, đá phun trào bazơ, axit, trung tính thuộc Đại Trung sinh và trầm tích Đại Tân sinh (hệ tầng Vĩnh Bảo, hệ tầng Hà Nội).
- Khí hậu và thủy văn: Nhiệt độ trung bình năm là 23,4°C; tại đai cao 400m giảm xuống 20,6°C và trên đai 1000m chỉ còn 16°C. Lượng mưa trung bình năm đạt 2.500 mm, tập trung chủ yếu vào tháng 7 và tháng 8; độ ẩm không khí bình quân 86,1%. Khu vực vùng thấp khô hanh từ tháng 12 đến tháng 1, từ cốt 400m trở lên khí hậu ẩm hơn. Mạng lưới suối ngắn, dốc, mật độ 1,2 - 2 km/km², thuộc phụ lưu sông Đà và sông Hồng (như Suối Cái, Suối Mít, Suối Ninh, ngòi Lạt, Chằm Me).
- Đa dạng sinh học: Kết quả điều tra năm 2008 ghi nhận hệ thực vật bậc cao có mạch đạt 1.201 loài thuộc 649 chi và 160 họ (tăng 389 loài so với năm 1998); khu hệ động vật có xương sống có 342 loài (gồm 3 loài đặc hữu và 66 loài quý hiếm).
- Dân sinh - kinh tế: Vùng đệm có cơ cấu dân cư gồm dân tộc Mường (77,3%), Kinh (20,4%), Dao (2,15%) và Thái (0,15%). Sản xuất nông nghiệp chiếm 22,04% diện tích, đất lâm nghiệp chiếm 44,9%; năng suất lương thực bình quân đạt 4,55 tấn/ha/năm; trên địa bàn có 8 cơ sở sản xuất công nghiệp và 11 điểm hoạt động du lịch.
Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả
Chương 4 cung cấp toàn bộ các số liệu định lượng thu thập được từ thực địa và phỏng vấn:
1. Đặc điểm phân bố không gian và địa hình
Qua điều tra 3 tuyến, Thổ phục linh chỉ xuất hiện tại Tuyến 1 (động Ngọc Hoa) và Tuyến 2 (vườn hoa Dã quỳ), không bắt gặp tại Tuyến 3 (cốt 800m). Tổng cộng đã ghi nhận loài tại 12 điểm thực địa. Loài phân bố tập trung ở sườn Đông Bắc xung quanh đai cao cốt 400m (khoảng dao động từ 200m đến 400m so với mực nước biển), trên sườn dốc dao động từ 15° đến 23°. Các cá thể sinh trưởng trên trảng cây bụi, đất lẫn đá hoa cương thuộc trạng thái rừng thứ sinh phục hồi nghèo kiệt, phân bố rải rác và không đồng đều.
2. Đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi loài phân bố
- Cấu trúc tầng cây cao: Kết quả đo đếm tại 3 OTC (mỗi ô 500 m²) ghi nhận công thức tổ thành tương đối đơn giản do đặc trưng của trạng thái thứ sinh nghèo kiệt. Mật độ cây tầng cao tại OTC 03 đạt 300 cây/ha.
| OTC |
Trạng thái rừng |
Vị trí địa hình |
Công thức tổ thành tầng cây cao |
Loài ưu thế chính |
| 01 |
Thứ sinh nghèo kiệt |
Sườn núi |
2,826LX + 2,609SM + 1,522BS + 1,087KTT + 1,957LK |
Lim xanh (LX), Sa mộc (SM), Ba soi (BS), Keo tai tượng (KTT) |
| 02 |
Thứ sinh nghèo kiệt |
Sườn núi |
5,882DDD + 1,176BS + 1,176TT + 1,765LK |
Dẻ đấu nứt (DDD) chiếm ưu thế (>50%), Ba soi (BS), Thẩu tấu (TT) |
| 03 |
Thứ sinh nghèo kiệt |
Sườn núi |
4N + 2OT + 1LH + 1CC + 2LK |
Nhội (N), Óc tốt (OT), Lát hoa (LH), Chò chỉ (CC) |
(Ghi chú ký hiệu: LX: Lim xanh; SM: Sa mộc; BS: Ba soi; KTT: Keo tai tượng; DDD: Dẻ đấu nứt; TT: Thẩu tấu; N: Nhội; OT: Óc tốt; LH: Lát hoa; CC: Chò chỉ; LK: Loài khác)
- Thành phần tầng cây tái sinh: Cây tái sinh ($D_{1.3} < 6$ cm) có sự tham gia của nhiều loài cây gỗ, tuy nhiên số lượng cá thể phân bố giữa các loài có sự chênh lệch:
| OTC |
Trạng thái rừng |
Vị trí địa hình |
Công thức tổ thành tầng cây tái sinh |
Loài tái sinh ưu thế |
| 01 |
Thứ sinh nghèo kiệt |
Sườn núi |
3,5DS + 2,5HBR + 1,5DD + 1NLN + 1,5LK |
Đọt sách (DS), Hồng bì rừng (HBR), Đùng đình (DD), Nái lá nguyên (NLN) |
| 02 |
Thứ sinh nghèo kiệt |
Sườn núi |
3,46DDD + 1,53NS + 1,53DS + 1,92LK |
Dẻ đấu nứt (DDD), Nóng sổ (NS), Đọt sách (DS) |
| 03 |
Thứ sinh nghèo kiệt |
Sườn núi |
2,41N + 2,06OT + 1,7BLL + 1,7HBR + 2,06LK |
Nhội (N), Óc tốt (OT), Bời lời lá tròn (BLL), Hồng bì rừng (HBR) |
- Thành phần tầng cây bụi, thảm tươi: Điều tra qua các ODB cho thấy thảm tươi cây bụi có chiều cao trung bình dưới 1m (dao động từ 0,2m đến 1,0m), độ che phủ tương đối thấp (từ 11,7% đến 23,1%), mức độ sinh trưởng trung bình:
- OTC 01: Độ che phủ 17,5%, chiều cao 0,3 - 0,9m; gồm Dương xỉ, Tiêu lá gai, Cỏ lá tre, Cỏ seo gà, Hà thủ ô trắng, Súm lông.
- OTC 02: Độ che phủ 11,7%, chiều cao 0,2 - 0,8m; gồm Dương xỉ, Cỏ lá tre, Cỏ seo gà, Trầu không rừng, Chân mơ 8 lá, Súm lông, Thài lài.
- OTC 03: Độ che phủ 23,1%, chiều cao 0,3 - 1,0m; gồm Dương xỉ, Thùm bép 3 lá, Ló chóng, Thài lài trắng, Sói rừng, Lấu, Nón rừng.
3. Đặc điểm sinh trưởng cá thể Thổ phục linh
Khảo sát 13 cá thể Thổ phục linh ngoài thực địa cung cấp các chỉ số sinh học chi tiết về kích thước và tình trạng phát triển:
| TT |
Chiều dài thân (m) |
Đường kính gốc (cm) |
Số nhánh |
Kích thước lá (cm) |
Hình dạng lá |
Màu sắc vỏ thân |
Tình trạng rễ củ |
| 1 |
4,0 |
0,5 |
6 |
5,0 x 18,0 |
Trái xoan thuôn |
Già: đỏ tím; Non: xanh |
Chưa có củ |
| 2 |
0,8 |
0,1 |
1 |
1,5 x 4,0 |
Trái xoan thuôn |
Thân non màu xanh |
Chưa có củ |
| 3 |
0,5 |
0,1 |
1 |
1,5 x 5,0 |
Trái xoan thuôn |
Thân non màu xanh |
Chưa có củ |
| 4 |
0,6 |
0,1 |
1 |
1,5 x 4,5 |
Trái xoan thuôn dài |
Thân non màu xanh |
Chưa có củ |
| 5 |
6,0 |
0,4 |
> 10 |
4,5 x 17,0 |
Trái xoan thuôn |
Già: đỏ tím; Non: xanh |
Chưa có củ |
| 6 |
0,5 |
0,1 |
1 |
Không có lá |
Không xác định |
Thân non màu xanh |
Chưa có củ |
| 7 |
5,0 |
0,2 |
7 |
4,5 x 17,0 |
Trái xoan thuôn |
Già: đỏ tím; Non: xanh |
Chưa có củ |
| 8 |
3,0 |
0,2 |
5 |
4,0 x 15,0 |
Trái xoan thuôn |
Già: đỏ tím; Non: xanh |
Chưa có củ |
| 9 |
0,4 |
0,1 |
1 |
Không có lá |
Không xác định |
Thân non màu xanh |
Chưa có củ |
| 10 |
1,5 |
0,1 |
3 |
3,5 x 14,0 |
Trái xoan thuôn dài |
Thân non màu xanh |
Chưa có củ |
| 11 |
7,0 |
0,4 |
> 10 |
5,0 x 19,0 |
Trái xoan thuôn |
Già: đỏ tím; Non: xanh |
Chưa có củ |
| 12 |
1,0 |
0,1 |
1 |
2,0 x 9,5 |
Trái xoan thuôn |
Thân non màu xanh |
Chưa có củ |
| 13 |
1,2 |
1,0 |
1 |
1,5 x 4,0 |
Trái xoan thuôn |
Thân non màu xanh |
Chưa có củ |
Kết quả đo đếm phản ánh: chiều dài thân leo dao động từ 0,4m đến 7,0m; đường kính gốc biến thiên từ 0,1 cm đến 1,0 cm; số cành nhánh từ 1 đến trên 10 nhánh; phiến lá lớn nhất đạt 5,0 x 19,0 cm. Phần thân già luôn có màu đỏ tím trong khi phần ngọn và thân non có màu xanh. Điểm cốt yếu là 100% (13/13) cá thể được khảo sát đều ghi nhận tình trạng "chưa có củ", chứng tỏ các cá thể lâu năm có củ thương phẩm đã bị người dân khai thác triệt để, ngoài tự nhiên hiện chỉ còn sót lại cây con tái sinh hoặc dây leo mới phục hồi.
4. Thực trạng quản lý, khai thác và phân tích SWOT
- Kết quả điều tra xã hội học: Phỏng vấn 15 cá nhân (gồm kiểm lâm và dân cư địa phương) cho thấy chỉ có 6/15 người nhận biết được loài Thổ phục linh, và chỉ 3/15 người biết chính xác vị trí phân bố của loài trong rừng. Có 4 người làm nghề thuốc cổ truyền lâu đời tại xã Tản Lĩnh đều sử dụng Thổ phục linh làm vị thuốc thường xuyên. Tại địa phương chưa ghi nhận bất kỳ hộ gia đình nào thực hiện nhân giống hoặc gây trồng loài cây này.
- Các yếu tố đe dọa: Hoạt động du lịch sinh thái gây ô nhiễm; việc xây dựng hạ tầng mở đường làm thu hẹp sinh cảnh; tập quán đào bới rễ củ bán dược liệu của người dân; thời tiết khắc nghiệt (sương muối, băng tuyết mùa đông); địa hình hiểm trở gây khó khăn cho việc tuần tra kiểm lâm.
- Ma trận phân tích SWOT trong công tác bảo tồn loài:
| Yếu tố |
Nội dung phân tích |
| Điểm mạnh (S) |
- Cán bộ có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu công tác quản lý bảo vệ rừng. - Có sự phối hợp của các lực lượng chức năng địa phương và quần chúng nhân dân. - Cơ sở vật chất, kỹ thuật cơ bản đáp ứng yêu cầu tuần tra bảo vệ rừng. - Hệ sinh thái VQG Ba Vì đa dạng, diện tích đủ lớn để triển khai bảo tồn loài. |
| Điểm yếu (W) |
- Lực lượng cán bộ còn mỏng, phần lớn tập trung vào quản lý hoạt động du lịch sinh thái. - Cơ chế quản lý còn bất cập trong điều hòa lợi ích kinh tế giữa người dân vùng đệm và Vườn Quốc gia. - Điều kiện thời tiết thất thường, xuất hiện băng tuyết gây chết thực vật rừng. - Tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật chuyên sâu về thực vật dược liệu còn ít. |
| Cơ hội (O) |
- Nhận được sự quan tâm, đầu tư về tài chính và nguồn nhân lực từ Nhà nước. - Nhiều chương trình, dự án bảo tồn thiên nhiên được triển khai tại VQG Ba Vì. - Công tác quản lý bảo vệ rừng ngày càng được các cấp chính quyền chú trọng. - Có sự liên kết, hỗ trợ nghiên cứu từ các viện, trường đại học (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Lâm nghiệp). - Ý thức bảo vệ tài nguyên rừng của một bộ phận người dân từng bước được nâng cao. |
| Thách thức (T) |
- Nhu cầu tiêu thụ cây dược liệu của thị trường và người dân ngày càng gia tăng. - Nguồn kinh phí cấp cho công tác bảo tồn loài còn hạn hẹp. - Việc gây trồng Thổ phục linh trong các hộ gia đình chưa được quan tâm và chưa có hướng dẫn kỹ thuật. - Trình độ dân trí vùng sâu còn hạn chế; tình trạng người dân lén lút vào rừng khai thác rễ củ vẫn diễn ra. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ lâm nghiệp ngày càng xuống cấp. |
5. Hệ thống giải pháp bảo tồn và phát triển đề xuất
- Về tổ chức quản lý: Tăng cường tuần tra tại các trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt có loài phân bố; nâng cao năng lực cho kiểm lâm địa bàn; trang bị phương tiện thông tin liên lạc và thiết bị phòng cháy chữa cháy rừng; xử lý nghiêm hành vi khai thác dược liệu trái phép; vận động cộng đồng thôn bản xây dựng và ký kết hương ước bảo vệ rừng.
- Về cơ chế chính sách: Quy hoạch phân định rõ ranh giới đất sản xuất và đất rừng đặc dụng; thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng để tạo thu nhập ổn định cho người dân vùng đệm; đào tạo mạng lưới khuyến nông viên, chuyển giao kỹ thuật trồng trọt; tổ chức các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức bảo tồn cây thuốc bản địa.
- Về kỹ thuật lâm sinh:
- Bảo tồn tại chỗ (in-situ): Khoanh nuôi bảo vệ nghiêm ngặt các vùng rừng thứ sinh ẩm, nhiều mùn xung quanh cốt 400m; hạn chế tối đa các tác động cơ giới và hoạt động du lịch xâm lấn; xúc tiến tái sinh tự nhiên bằng cách bảo vệ cây mẹ và dọn tỉa thực bì chèn ép.
- Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ): Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống vô tính (giâm hom, tách căn hành) và hữu tính (từ hạt) để sản xuất cây con giống; xây dựng các mô hình trồng thử nghiệm dưới tán rừng trồng hoặc trong vườn thuốc gia đình nhằm giảm áp lực khai thác đối với quần thể tự nhiên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu điều tra thực địa:
- Xác định được phạm vi phân bố thực tế của Thổ phục linh tại VQG Ba Vì: Loài phân bố tập trung ở đai cao từ 200m đến 400m (chủ yếu quanh cốt 400m tại khu vực Động Ngọc Hoa và Vườn hoa Dã quỳ), hướng phơi Đông và Đông Bắc, độ dốc 15° - 23°, trên đất lẫn đá hoa cương thuộc trạng thái rừng thứ sinh phục hồi nghèo kiệt; không xuất hiện ở đai cao cốt 800m.
- Định lượng cấu trúc lâm phần: Lập được công thức tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh tại 3 OTC điển hình; xác định mật độ tầng cây cao tại OTC 03 đạt 300 cây/ha; xác định tầng cây bụi thảm tươi có độ che phủ thấp (11,7% - 23,1%) và chiều cao bình quân dưới 1m với sự ưu thế của các loài Dương xỉ, Cỏ lá tre, Súm lông.
- Đánh giá hiện trạng sinh trưởng cá thể: Đo đếm 13 cá thể Thổ phục linh với chiều dài thân từ 0,4m đến 7,0m; phát hiện 100% cá thể khảo sát đều không có củ phình to, phản ánh tình trạng bị khai thác kiệt quệ rễ củ trong tự nhiên.
- Về mặt xã hội học và bảo tồn: Thống kê tỷ lệ nhận biết loài qua phỏng vấn 15 người (6 người biết loài, 3 người biết nơi phân bố, 4 người làm nghề thuốc thường xuyên sử dụng); thiết lập ma trận SWOT và đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp (quản lý, chính sách, kỹ thuật lâm sinh) có tính khả thi cho địa phương.
- Đóng góp của tác giả: Đề tài là công trình đầu tiên điều tra chuyên biệt về vị trí phân bố và cấu trúc quần xã thực vật kèm theo của loài Thổ phục linh tại VQG Ba Vì, lấp đầy khoảng trống dữ liệu lâm sinh của loài dược liệu này tại khu vực Hà Nội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thẳng thắn nêu rõ các hạn chế tồn tại do giới hạn về thời gian, nhân lực và kinh phí:
- Phạm vi khảo sát mới thực hiện trên 3 tuyến điều tra và 3 ô tiêu chuẩn tập trung ở một số khu vực nhất định quanh cốt 400m và 800m, chưa bao quát được toàn bộ các tiểu khu và trạng thái rừng của VQG Ba Vì.
- Mới dừng lại ở việc đánh giá định tính các yếu tố quản lý, dân sinh tác động đến loài; chưa phân tích sâu mối tương quan định lượng giữa các chỉ tiêu khí hậu, thủy văn, tính chất hóa - lý của đất rừng với khả năng sinh trưởng của loài Thổ phục linh.
- Đề tài chưa theo dõi được các giai đoạn vật hậu (mùa ra hoa, kết quả, phát tán hạt), chưa nghiên cứu cấu trúc tầng thứ chi tiết của rừng và chưa tiến hành thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật nhân giống trong vườn ươm.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo được kiến nghị:
- Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ các trạng thái rừng và các đai cao khác nhau tại VQG Ba Vì để lập bản đồ phân bố hoàn chỉnh.
- Nghiên cứu chuyên sâu về đặc tính lý - hóa sinh của đất và động thái diễn biến tài nguyên rừng nơi Thổ phục linh phân bố.
- Triển khai các nghiên cứu thực nghiệm nhân giống nhân tạo (gieo hạt, giâm cành, nuôi cấy mô) nhằm cung cấp cây giống cho nhân dân gây trồng dưới tán rừng, giảm thiểu áp lực thu hái tự nhiên.
- Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông và giáo dục môi trường về bảo tồn cây thuốc bản địa cho cộng đồng dân cư sinh sống trong vùng đệm.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và hoạt động học thuật sau:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học thực vật và Dược liệu học: Cung cấp phương pháp mẫu về quy trình bố trí tuyến khảo sát lâm sản ngoài gỗ, kỹ thuật lập ô tiêu chuẩn (OTC), ô dạng bản (ODB) và phương pháp tính toán công thức tổ thành rừng thực địa.
- Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì và Chi cục Kiểm lâm địa phương: Bộ số liệu định vị tọa độ GPS, độ cao phân bố và danh mục các loài cây đi kèm là tài liệu phục vụ việc phân vùng bảo tồn nguyên vị (in-situ), lập kế hoạch khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và kiểm soát hoạt động đào bới rễ củ trái phép.
- Các nhà nghiên cứu phát triển dược liệu: Cung cấp dữ liệu sinh cảnh thực tế (độ cao 200 - 400m, sườn dốc 15 - 23°, rừng thứ sinh nghèo kiệt, độ che phủ thảm tươi thấp) phục vụ việc lựa chọn lập địa phù hợp khi xây dựng các dự án trồng bán tự nhiên cây Thổ phục linh dưới tán rừng.
Câu hỏi thường gặp
1. Loài Thổ phục linh tại VQG Ba Vì phân bố tập trung ở điều kiện lập địa và đai cao nào?
Loài phân bố chủ yếu ở đai cao từ 200m đến 400m (quanh khu vực cốt 400m như Động Ngọc Hoa, Vườn hoa Dã quỳ), trên sườn núi dốc từ 15° đến 23°, hướng phơi Đông và Đông Bắc, mọc trên đất có đá và đá hoa cương thuộc kiểu rừng thứ sinh phục hồi nghèo kiệt. Khảo sát tại tuyến cốt 800m không ghi nhận sự xuất hiện của loài.
2. Thực trạng 100% cá thể khảo sát đều "chưa có củ" phản ánh điều gì?
Kết quả đo đếm 13 cá thể ngoài thực địa cho thấy toàn bộ các cây đều chưa có củ hoặc không có củ phình to. Điều này phản ánh áp lực khai thác dược liệu triệt để của người dân địa phương; các cá thể trưởng thành có củ lớn đã bị đào bới tận thu, trong tự nhiên hiện chỉ còn sót lại cây con tái sinh hoặc các nhánh dây leo mới phát triển.
3. Cấu trúc tầng cây cao nơi Thổ phục linh phân bố gồm những loài cây gỗ nào ưu thế?
Tại 3 OTC điều tra, tầng cây cao có tổ thành tương đối đơn giản: OTC 01 ưu thế bởi Lim xanh (LX) và Sa mộc (SM); OTC 02 ưu thế lớn bởi Dẻ đấu nứt (DDD) chiếm trên 50% số cá thể; OTC 03 có mật độ 300 cây/ha với các loài ưu thế gồm Nhội (N), Óc tốt (OT), Lát hoa (LH) và Chò chỉ (CC).
4. Mức độ nhận biết và tình hình gây trồng loài Thổ phục linh của người dân địa phương ra sao?
Trong số 15 người được phỏng vấn, chỉ có 6 người biết về loài Thổ phục linh và chỉ 3 người biết chính xác vị trí phân bố của loài trong rừng. Có 4 người duy trì nghề làm thuốc cổ truyền và đều sử dụng rễ củ Thổ phục linh. Toàn bộ khu vực điều tra chưa ghi nhận bất kỳ hộ gia đình nào triển khai nhân giống hoặc gây trồng loài cây này.
5. Đề tài đề xuất những giải pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể nào để bảo tồn loài?
Đề tài đề xuất kết hợp bảo tồn tại chỗ (in-situ) bằng cách khoanh nuôi, bảo vệ nghiêm ngặt các diện tích rừng thứ sinh ẩm quanh cốt 400m, xúc tiến tái sinh tự nhiên; đồng thời tiến hành bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) thông qua việc nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật nhân giống nhân tạo để tạo nguồn cây con, trồng khảo nghiệm dưới tán rừng và nhân rộng mô hình trồng dược liệu trong các hộ gia đình.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Triệu Càn Sếnh đã xác định được phạm vi phân bố thực tế của loài Thổ phục linh (Smilax grabra Wall.ex Roxb) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, khu trú ở đai cao 200 - 400m trên sườn Đông Bắc thuộc trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt. Nghiên cứu đã định lượng được đặc điểm cấu trúc lâm phần qua các công thức tổ thành tầng cây cao, tầng cây tái sinh, độ che phủ tầng thảm tươi và ghi nhận hiện trạng suy kiệt sinh khối rễ củ do áp lực khai thác. Hệ thống các giải pháp quản lý, chính sách và kỹ thuật lâm sinh được đề xuất là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác quản lý bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý và định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ bền vững tại VQG Ba Vì.