Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SỨC CHỐNG CẮT VÀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA NỀN ĐẤT YẾU Đất yếu là những loại đất có sức chịu tải nhỏ và tính nén lún lớn. Khi xây dựng nền đường đắp trên nền đất yếu thì một trong những vấn đề đầu tiên cần phải quan tâm là độ ổn định của đất nền. Nếu chọn giải pháp xây dựng đắp nền đường theo nhiều giai đoạn thì chúng ta cần phải quan tâm đến các tính chất ban đầu của đất yếu cũng như sự thay đổi của chúng ở mỗi giai đoạn trong quá trình thi công để chọn chiều cao đắp, tốc độ đắp…một cách hợp lý, vì nền đất yếu sẽ bị mất ổn định khi sức chống cắt của đất yếu không đủ chịu đựng được sức chống cắt do tải trọng ngoài (đất đắp và xe cộ) gây ra.1 Khái niệm về đất yếu [2], [9] Đất yếu có thể chia thành ba loại: đất sét hoặc đất á sét bụi mềm, có hoặc không có chất hữu cơ; than bùn hoặc các rất nhiều hữu cơ và bùn. Ở nước ta thường gặp các loại đất yếu là sét mềm, bùn và than bùn.
Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá về đất yếu, trong tài liệu [2] có nêu ra các đặc điểm của đất yếu như sau: Đất yếu có khả năng chịu tải nhỏ (vào khoảng 0,5 - 1,0 daN/cm2), có tính nén lún lớn, hầu như bão hòa nước, có hệ số rỗng lớn (e > 1), môđun biến dạng thấp ( khoảng E0 = 50 daN/cm2), sức kháng cắt nhỏ,…Nếu không có biện pháp xây dựng hoặc xử lý đúng đắn thì công trình sẽ không đạt yêu cầu. Tất cả các loại này đều được bồi tụ trong nước một cách khác nhau: bồi tích ven biển, đầm lầy, cửa sông, ao hồ,…Trong các loại này đất sét mềm ở gần bờ biển (đầm lầy, cửa sông,…) tạo thành họ đất yếu phát triển nhất. Ở trạng thái tự nhiên độ ẩm của chúng thường bằng hoặc lớn hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn (đất sét mềm e 1,5, đất á sét bụi e 1), lực dính không thoát nước cu 0,15 daN/cm2, góc nội ma sát u = 0, độ sệt IL > 0,5 (trạng thái dẻo mềm). 4 Loại có nguồn gốc hữu cơ (than bùn và đất hữu cơ) thường hình thành từ đầm lầy, nơi đọng nước thường xuyên hoặc có mực nước ngầm cao, các loại thực vật phát triển, thối rữa và phân hủy, tạo ra trầm tích hữu cơ và trầm tích khoáng vật, hàm lượng hữu cơ chiếm tới 20 – 80%.
Trong điều kiện tự nhiên, than bùn có độ ẩm rất cao, trung bình W% = 85 - 95% và có thể lên tới vài trăm phần trăm. Than bùn là loại đất bị nén lún lâu dài, không đều và mạnh nhất. Đất yếu đầm lầy than bùn còn được phân loại theo hàm lượng hữu cơ của chúng: Hàm lượng hữu cơ từ 20 - 30%: đất nhiễm than bùn. Hàm lượng hữu cơ từ 30 - 60%: đất than bùn.
Hàm lượng hữu cơ trên 60%: than bùn. Bùn là các lớp đất mới được hình thành trong môi trường nước ngọt hoặc nước biển gồm các hạt rất mịn (< 200μm) với tỉ lệ % cao. Bản chất khoáng vật thay đổi và thường có kết cấu tổ ong. Hàm lượng hữu cơ thường dưới 10%.
Bùn được tạo thành chủ yếu do sự bồi lắng tại đáy các vũng, vịnh, hồ hay các cửa sông chịu ảnh hưởng của thủy triều. Bùn luôn no nước và rất yếu về mặt chịu lực. Cường độ của bùn rất nhỏ, biến dạng lớn, môđun biến dạng chỉ vào khoảng 1 - 5 daN/cm2 với bùn sét, từ 10 - 25 daN/cm2 với bùn á sét, bùn á cát, hệ số nén lún có thể lên tới 2 - 3 cm2/daN. Với những tính chất như trên khi xây dựng nền bùn thường được nạo vét để thay đất tốt hoặc có giả pháp xử lý đặc biệt.2 Các yêu cầu về ổn định khi thiết kế nền đắp trên đất yếu [2], [15] Nền đắp trên đất yếu phải đảm bảo ổn định, không được lún trồi và trượt sâu cả trong quá trình thi công đắp nền và khai thác, tức là phải đảm bảo cho nền đường luôn ổn định.
Theo quy trình khảo sát thiết kế nền đường ôtô đắp trên đất yếu 22TCN 262- 2000 thì khi áp dụng phương pháp Bishop để kiểm toán ổn định do trượt sâu thì phải đảm bảo hệ số ổn định nhỏ nhất Kmin = 1,4. Nếu tính theo phương pháp phân mảnh cổ điển thì Kmin = 1,2 hoặc Kmin = 1,1 (khi dùng kết quả thí nghiệm cắt nhanh không thoát nước). 5 Cần chú ý đến việc quan trắc chuyển vị ngang trong quá trình đắp nền đường để dự đoán sự ổn định của nền đường và khống chế tốc độ đắp đất. Nếu chuyển vị ngang tăng nhanh thì tạm hoãn việc đắp đất (hoặc dỡ bớt ) để tránh hiện tượng lún trồi hoặc trượt sâu có thể xảy ra.
Theo quy định, tốc độ lún ở đáy nền đắp (tại tim đường) không vượt quá 10mm/ngày đêm, tốc độ chuyển vị ngang ở hai bên nền đắp không vượt quá 5mm/ngày đêm.3 Những hƣ hỏng thƣờng gặp [2], [9] Khi đắp nền đường thì ứng suất trong đất sẽ tăng lên, nếu sự gia tăng tăng này vượt quá giới hạn thì nền sẽ bị mất ổn định. Có hai dạng mất ổn định thường gặp sau: Mất ổn định theo dạng phình trồi Toàn bộ nền đắp lún võng vào nền đất yếu, đẩy trồi đất yếu tạo thành các bờ đất gần chân taluy.Nền đường chưa bị xé rách, vùng phá hoại (chứa các điểm mất ổn định) trong nền đất yếu đã xất hiện nhưng chưa đến mức có thể gây ra một mặt trượt liên tục xé rách nền đất yếu và nền đường.1 Mất ổn định dạng phình trồi Mất ổn định theo dạng trượt trồi Dạng phá hoại này thường gặp trong xây dựng đường do dạng hình học của nền đắp. Một cung trượt tròn sinh ra do nền đắp lún cục bộ, hậu quả là một bộ phận của nền đắp và nền thiên nhiên bị chuyển vị, có hình dạng thay đổi theo tính chất và các đặc trưng cơ học của vật liệu dưới nền đắp. Trường hợp này xuất hiện một mặt trượt liên tục xé rách nền đường và đẩy đất yếu trượt trồi lên phía trên chân taluy.
Vùng phá hoại trong nền đấy yếu đã vượt quá mức giới hạn tương ứng cho ổn định tổng thể.2 Mất ổn định dạng trượt trồi 1.4 Một số trƣờng hợp thực tế xây dựng nền đƣờng đắp trên đất yếu [5] Vấn đề về ổn định trong thi công nền đường được nghiên cứu khá nhiều, có thể kể đến vài công trình điển hình mà GS. Dương Học Hải và các cộng sự đã thu thập một số các tài liệu thực tế về xây dựng nền đường đắp ở nước ta: 1. Trường hợp nền đắp ở đầu cầu Rong (Nghệ Tĩnh) với bề rộng nền 12m, taluy 1:1,5 dự kiến đắp cao 5m, nhưng đắp đến 4,8m thì bị trượt. Đất yếu phía dưới là bùn sét bão hòa có c = 0,1 T/m2 và υ = 2o30’ (theo thí nghiệm cắt nhanh mẫu nguyên dạng trong phòng); γ = 1,7 T/m3; mực nước ngầm cách mặt đất 0,4m.
Sau khi nhóm tác giả tính toán lại theo phương pháp mặt trượt tròn (phân mảnh cổ điển) thì kết quả là chỉ cần đắp gần đến 1,0m là đã trượt. Đây là một khoảng cách rất xa giữa tính toán và thực tế. Trường hợp thi công đắp đoạn đường qua đầm Vân Trì (đường Bắc Thăng Long – Nội Bài), nền đắp cao 2,8m (chưa đến độ cao thiết kế); bề rộng 20m; taluy 1:1,5. Đất yếu gồm 2 lớp: - Lớp sét dẻo mềm ở phía trên dày 1,5m có γ = 1,85 T/m3; c = 1 T/m2 và υ = 3o36’ (cắt nhanh trong phòng).
- Lớp bùn sét phía dưới dày 5,5m có γ = 1,51 T/m3; c = 0,56 T/m2 và υ = 3o37’ (cắt nhanh trong phòng). Theo kiểm toán Kmin = 1,009 tức là tương đương với trọng thái giới hạn trượt, thực tế thì hoàn toàn ổn định. Tại đây thí nghiệm cắt nhanh trong lớp bùn sét bằng phương pháp cắt cánh cho kết quả trong phạm vi cu = 1,8 – 2,0 T/m2 (gấp 4 lần sức chống cắt theo kết quả cắt trong phòng). 7 Cùng với các trường hợp tương tự khác, nhóm nghiên cứu đã rút ra nhiều nhận xét hữu ích.
Có thể kể đến vài điểm cần quan tâm sau: 1. Trị số lực dính c và góc nội ma sát υ của đất yếu theo kết quả cắt nhanh trực tiếp thường rất nhỏ, nhỏ hơn nhiều so với kết quả thí nghiệm cắt cánh hiện trường. Kiểm toán theo phương pháp phân mảnh cổ điển với các thông số c, υ lấy theo kết quả cắt trực tiếp không thoát nước trong phòng thì kết quả không phù hợp với thực tế. Cụ thể là với hệ số ổn định Kmin < 1 nền đắp vẫn ổn định, hoặc chiều cao đắp giới hạn tính toán quá nhỏ so với chiều cao đắp giới hạn thực tế.
Với phương pháp kiểm toán trên, nếu dùng sức chống cắt tính toán xác định theo phương pháp cắt cánh hiện trường thì kết quả phù hợp với diễn biến thực tế hơn. Với nghiên cứu ở tuyến Cà Mau - Năm Căn, nhóm nghiên cứu nhận xét: - Hệ số ổn định cần đạt được trong quá trình thi công tối thiểu phải bằng 1,1 (Kmin = 1,1). Trong quá trình khai thác lâu dài thì hệ số này là 1,25 (Kmin = 1,25). Quy trình 22TCN 262-2000 khuyến cáo dùng Kmin = 1,2 trong quá trình thi công cho mỗi đợt đắp.5 Sức chống cắt và sự ổn định của đất nền [19] Khi đắp nền đường trên đất cứng có sức chịu tải cao thì vấn đề ổn định nền đường chỉ còn là xem xét ổn định của bản thân nền đường, mà chủ yếu là tính toán ổn định taluy.
Nhưng đối với nền đường trên đất yếu vấn đề ổn định nền đường không những xem xét ổn định taluy mà còn phải tính toán ổn định nền đất yếu [9]. Trong việc tính toán xây dựng nền đường đắp trên nền đất yếu có hai trường hợp: thi công một giai đoạn, khi sức chống cắt ban đầu của đất đủ để chịu tải trọng tối đa của nền đường và thi công nhiều nhiều giai đoạn, khi sức chống cắt ban đầu của đất không đủ để chịu tải trọng tối đa của nền đường, trong trường hợp này, cần phải chia thành nhiều đợt để thi công với yêu cầu là phải ước tính sự gia tăng sức chống cắt theo thời gian khi có tải trọng tác dụng để đưa ra tốc độ gia tải an toàn.