CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUễI Cể YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Theo quan điểm chung, nuôi con nuôi được hiểu là việc trẻ em đi làm con nuôi ở một gia đình khác trong cùng một nước hay ở nước ngoài, nhằm mục đích xác lập mối quan hệ cha mẹ với con giữa người nuôi và con nuôi với mục đích đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, phù hợp với đạo đức xã hội. Nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài là một trong các quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại điểm c khoản 14 Điều 8 luật HN & GĐ năm 2000, thì nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài có thể hiểu là: - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; - Việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam; - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ở nước ngoài; - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
Như vậy, nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuụi cú ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc việc nuôi con nuôi được xác lập ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài. Ngoài ra theo khoản 3 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Điều 1 Thông tư 07/2002/TT-BTP cũng được coi là việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài trong trường hợp trẻ em là người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 6 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con bằng con đường nuôi dưỡng để phân biệt với việc hình thành quan hệ giữa cha mẹ và con trên cơ sở huyết thống. Nếu như quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ là quan hệ gia đình “huyết thống” được hình thành do việc sinh đẻ, thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là quan hệ “nhân tạo” được xác lập về mặt pháp lý. Một quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài chỉ được xác lập khi có sự tham gia cùng một lúc của hai chủ thể, có khả năng và điều kiện thực hiện các quyền chủ thể tương ứng, đó là “chủ thể nhận nuôi con nuôi” (cha mẹ nuôi) và “chủ thể được nhận làm con nuôi” (con nuôi).2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài.
Giải pháp nuôi con nuôi nước ngoài là giải pháp cuối cùng và giải pháp này có lợi là đem lại một gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không thể tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em ngay tại nước mình. Việc trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài giảm gánh nặng cho các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em mà vẫn đảm bảo được lợi Ých tốt nhất cho trẻ; mặt khác điều đó phù hợp với chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại của nước ta, đáp ứng nhu cầu hội nhập và giao lưu quốc tế. Vì vậy, việc nuôi con nuôi có yÕu tố nước ngoài cũng thể hiện mục đích nhân đạo cao đẹp, đáp ứng nhu cầu tình cảm của con người, dù khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán… Đối với bản thân đứa trẻ, việc được nhận làm con nuôi có ý nghĩa sâu sắc làm thay đổi cơ bản số phận của đứa trẻ. Đứa trẻ được làm con nuôi sẽ được sống trong môi trường gia đình thuận lợi để phát triển hài hoà về thể chất, nhân cách và tinh thần với sự “yêu thương, thông cảm” trong mét gia đình theo đúng nghĩa của nó.
Đồng thời việc nuôi con nuôi tạo điều kiện cho trẻ được nhận nuôi có điều kiện sống tốt hơn, đặc biệt đối với đứa trẻ bị tàn tật, khuyết tật, có bệnh hiểm nghèo có điều kiện chữa trị phục hồi chức năng tốt hơn.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 7 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 Đối với người nhận nuôi, việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đem lại cho người nhận nuôi mét đứa con phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, và tăng cường được mối quan hệ gắn bó giữa họ với Việt Nam. Đó là những nguyện vọng chính đáng đối với những cặp vợ chồng vô sinh, với những người giàu lòng nhân ái… Nh vậy, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là phương thức thực hiện quyền làm cha mẹ, làm con cái một cách hợp pháp, qua đó kết hợp hài hoà lợi Ých của các bên: Người nhận nuôi và người được nhận nuôi.3 Pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài.1 Một số đặc trưng cơ bản của pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, việc nuôi con nuụi cú những đặc điểm riêng, phản ánh các điều kiện về kinh tế xã hội, lịch sử của thời kỳ đó. Pháp luật điều chỉnh nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật nuôi con nuụi có yếu tố nước ngoài phức tạp bởi yếu tố nước ngoài: Yếu tố nước ngoài khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp khác nhau, có thể là chủ thể, pháp luật áp dụng, sự kiện pháp lý… Việc xác định đúng yếu tố nước ngoài rất quan trọng, nhằm xác định thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi, giải quyết các tranh chấp phát sinh, xác định pháp luật cần áp dụng, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của cỏc bờn. Thứ hai, Về phương pháp điều chỉnh, cũng như các quan hệ khác, quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài cũng có hai phương pháp điều chỉnh đó là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất. Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp) là phương pháp sử dụng quy pham xung đột, không trực tiếp quy định Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 8 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài này sẽ được điều chỉnh như thế nào, mà chỉ ấn định việc lựa chọn quy định pháp luật nước nào cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ cụ thể đó. Quy phạm xung đột được ghi nhận cả trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, ví dụ Điều 30 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Balan quy định “Việc nhận nuôi con nuôi phải tuân theo pháp luật của nước mà người nhận nuôi là công dân”.
Phương pháp thực chất (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp) là phương pháp sử dụng quy phạm thực chất, quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của cỏc bờn chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Quy phạm thực chÊt cũng được quy định cả trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Thứ ba, pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài luôn gắn chặt với chính sách đối ngoại. Vì việc nuôi con nuôi mở rộng không gian lãnh thổ liên quan đến yếu tố chủ quyền quốc gia cũng như mối quan hệ về mặt tình cảm giữa người với người; việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài còn ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia, là quan hệ về mặt tình cảm song lại có ảnh hưởng sâu sắc đến chính trị.
Thứ tư, pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài đề cao vấn đề nhân quyền, bảo vệ quyền con người trước hết là bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ lợi ích của trẻ, quán triệt tư tưởng nhân loại phải dành cho trẻ em cái tốt nhất mà mỡnh cú. Điều 21 Công ước về quyền trẻ em quy định: “Các quốc gia thành viên công nhận hoặc cho phép chế độ nhận làm con nuôi phải đảm bảo rằng những lợi ích tốt nhất của đứa trẻ phải là quan tâm cao nhất…”. Phù hợp với tinh thần của Công ước, Luật HN & GĐ Việt Nam khẳng định, mục đích của việc nuôi con nuôi nhằm xây dùng tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong việc xác lập quan hệ cha mẹ và con cái, “đảm bảo cho người Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 9 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội” (Điều 67).
Tuy Việt Nam chưa tham gia Công ước Lahaye 1993, nhưng các quy định trong các văn bản pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã tiếp cận, cố gắng thể hiện tinh thần và phù hợp với yêu cầu của Công ước Lahaye. Những quy định đều hướng tới bảo vệ tốt nhất lợi ích của trẻ em. Thứ năm, pháp luật điều chỉnh nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài điều chỉnh quan hệ cha mẹ - con không dựa trên cơ sở huyết thống với mục đích hình thành một gia đình mới giống như gia đình sinh thành của trẻ. Đây là quan hệ mang tính đặc thù vỡ cú sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục tập quỏn…Yờu cầu đặt ra là sự điều chỉnh của pháp luật phải rõ ràng, chặt chẽ, cụ thể; cần có cơ chế phối hợp và bảo vệ giữa các nước có liên quan bằng Hiệp định song phương, đa phương.
Mục đích cốt yếu là bảo đảm lợi ích của cỏc bờn, đặc biệt là của trẻ em.2 Hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. * Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến điều chỉnh quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề nuôi con nuôi giữa công dân các nước ngày càng phát triển đòi hỏi sự quan tâm của chính phủ các nước. Pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật quốc tế đều thống nhất công nhận rằng “ trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [6].