Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình trạng nhiễm norovirus ở trẻ khỏe mạnh dưới 3 tuổi tại một trường mầm non ở hà nam năm học 2014 2015

Nghiên cứu tình trạng nhiễm norovirus ở trẻ dưới 3 tuổi tại trường mầm non Hà Nam năm học 2014-2015, cung cấp thông tin quan trọng về sức khỏe trẻ em.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2016

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

BẢNG KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu chung về Viêm dạ dày ruột cấp ở trẻ em

1.2. Định nghĩa bệnh VDDRC

1.3. Tình hình bệnh VDDRC trên thế giới và Việt Nam

1.4. Dịch tễ học bệnh VDDRC

1.5. Các tác nhân gây VDDRC

1.6. Giới thiệu chung về NoV

1.7. Bệnh VDDRC do nhiễm NoV

1.8. Phân loại, hình thái và tổ chức bộ gen của NoV

1.9. Sự lây truyền, đặc điểm lâm sàng và sinh lý bệnh

1.10. Phương pháp real time RT-PCR (Real time Reverse transcription polymerase chain reaction)

1.11. Tình hình nghiên cứu NoV trong và ngoài nước

1.11.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.11.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.12. Kiểu gen FUT-2 ở người và tính cảm nhiễm NoV

1.13. Kháng nguyên nhóm máu tương dung tổ chức (HBGA) và khả năng cảm nhiễm của NoV

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thu thập bệnh phẩm

2.3.2. Kỹ thuật real time-RT PCR phát hiện ARN của NoV

2.3.3. Kỹ thuật RT PCR khuếch đại đoạn gen vùng C của NoV

2.3.4. Phương pháp xác định kiểu gen FUT-2

2.3.5. Xác định kiểu hình HBGA (ABO và Lewis) trong mẫu nước bọt

2.3.6. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tỷ lệ lưu hành của NoV ở trẻ không triệu chứng tại trường mầm non ở Hà Nam

3.2. Biến động genotype của NoV lưu hành ở trẻ không triệu chứng tại trường mầm non ở Hà Nam

3.3. Mối liên hệ giữa tính cảm nhiễm NoV với kiểu gen của FUT-2

3.4. Tần số SNP tại vị trí 357, 385, 428, 571, 628, 685, 849 trên gen FUT-2

3.5. Mối quan hệ giữa alen đồng hợp lặn A385T và sự kháng nhiễm NoV

3.6. Mối tương quan giữa kháng nguyên nhóm máu tương dung tổ chức và khả năng cảm nhiễm NoV ở trẻ khỏe mạnh tại trường mầm non ở Hà Nam

3.7. Kiểu hình HBGA ở trẻ khỏe mạnh tại trường mầm non Hà Nam

3.8. Mối liên quan giữa kiểu hình của kháng nguyên HBGA với khả năng cảm nhiễm NoV

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu norovirus ở trẻ dưới 3 tuổi tại Hà Nam

Nghiên cứu về norovirus ở trẻ em dưới 3 tuổi tại Hà Nam đã chỉ ra rằng đây là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Norovirus là một trong những tác nhân chính gây ra bệnh viêm dạ dày ruột cấp tính, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Tình hình dịch bệnh này đang gia tăng, đòi hỏi sự chú ý từ cộng đồng và các nhà nghiên cứu.

1.1. Định nghĩa và triệu chứng của norovirus

Norovirus là một loại virus gây ra bệnh viêm dạ dày ruột cấp tính. Triệu chứng bao gồm tiêu chảy, nôn mửa, đau bụng và sốt nhẹ. Trẻ em dưới 3 tuổi có nguy cơ cao mắc bệnh này do hệ miễn dịch còn yếu.

1.2. Tình hình dịch bệnh norovirus tại Hà Nam

Tại Hà Nam, tỷ lệ nhiễm norovirus ở trẻ em đang gia tăng. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng virus này thường lây lan qua thực phẩm và nước uống không an toàn, đặc biệt trong môi trường như trường mầm non.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu norovirus ở trẻ em

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về norovirus, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định và kiểm soát dịch bệnh này. Các vấn đề như thiếu thông tin về tỷ lệ nhiễm và sự biến đổi gen của virus đang gây khó khăn cho việc phòng ngừa.

2.1. Khó khăn trong việc phát hiện norovirus

Việc phát hiện norovirus thường gặp khó khăn do triệu chứng không đặc hiệu và sự tương đồng với các bệnh tiêu chảy khác. Phương pháp xét nghiệm hiện tại như RT-PCR cần được cải thiện để tăng độ nhạy và độ chính xác.

2.2. Thách thức trong việc phòng ngừa và kiểm soát

Việc phòng ngừa norovirus đòi hỏi sự hợp tác từ nhiều bên, bao gồm gia đình, nhà trường và cơ quan y tế. Thiếu kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm và thói quen rửa tay là những yếu tố chính dẫn đến sự lây lan của virus.

III. Phương pháp nghiên cứu norovirus ở trẻ dưới 3 tuổi

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp hiện đại để xác định tỷ lệ nhiễm norovirus và kiểu gen của virus. Phương pháp RT-PCR được áp dụng để phát hiện virus trong mẫu bệnh phẩm từ trẻ em.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu bệnh phẩm

Mẫu bệnh phẩm được thu thập từ trẻ em tại các trường mầm non ở Hà Nam. Quy trình thu thập được thực hiện theo tiêu chuẩn y tế để đảm bảo tính chính xác và an toàn.

3.2. Kỹ thuật RT PCR trong phát hiện norovirus

Kỹ thuật RT-PCR là phương pháp chính được sử dụng để phát hiện ARN của norovirus. Phương pháp này cho phép xác định nhanh chóng và chính xác sự hiện diện của virus trong mẫu bệnh phẩm.

IV. Kết quả nghiên cứu về norovirus ở trẻ em tại Hà Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm norovirus ở trẻ em dưới 3 tuổi tại Hà Nam là đáng kể. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ giữa kiểu gen FUT-2 và khả năng cảm nhiễm với virus.

4.1. Tỷ lệ nhiễm norovirus ở trẻ khỏe mạnh

Tỷ lệ nhiễm norovirus ở trẻ khỏe mạnh tại các trường mầm non là khoảng 15%. Điều này cho thấy virus có thể lây lan mà không gây triệu chứng rõ ràng.

4.2. Mối liên hệ giữa kiểu gen FUT 2 và norovirus

Nghiên cứu cho thấy rằng kiểu gen FUT-2 có ảnh hưởng đến khả năng cảm nhiễm với norovirus. Những trẻ có kiểu gen này có nguy cơ cao hơn trong việc nhiễm virus.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu norovirus ở trẻ em

Nghiên cứu về norovirus ở trẻ dưới 3 tuổi tại Hà Nam đã cung cấp nhiều thông tin quý giá. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về virus này và phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu norovirus

Nghiên cứu norovirus là cần thiết để bảo vệ sức khỏe trẻ em. Việc hiểu rõ về virus sẽ giúp cải thiện các biện pháp phòng ngừa và điều trị.

5.2. Hướng đi tương lai trong nghiên cứu

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về norovirus để phát triển vaccine và các phương pháp điều trị hiệu quả. Hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và cơ quan y tế là rất quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. G ớ t ệu c un về V êm dạ dày ruột cấp ở trẻ em 1. Định nghĩa bệnh VDDRC Viêm dạ dày ruột cấp hay còn gọi là tiêu chảy là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, phổ biến và thường gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là trẻ em.

Theo tổ chức Y tế Thế giới VDDRC được định nghĩa là ―đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước trên 3 lần trong 24 giờ, phân lỏng là phân không thành khuôn‖ [96]. Độ rắn mềm của phân do thành phần nước trong phân quyết định: Phân có 85% nước gọi là nhão; phân có 88% nước gọi là lỏng: phân có 90% nước gọi là lỏng như nước [1]. Số lượng phân được bài tiết ra ngoài bình thường mỗi ngày thay đổi tùy theo chế độ ăn, tuổi của từng cá thể. Khi có tiêu chảy, phân chứa nhiều nước hơn bình thường gọi là phân nước hay phân lỏng.

Trong những trường hợp lỵ, trực khuẩn phân có thể chứa máu [2]. Mối nguy hiểm chính của VDDRC là tử vong và suy dinh dưỡng. Tử vong do VDDRC hầu hết thường gây ra bởi vì mất một lượng lớn muối và nước từ cơ thể [8]. Những biến chứng do VDDRC thường gặp là kém ăn, đôi khi kèm nôn mửa [1].

Trẻ ăn ít đi và khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng bị giảm so với nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, chính những yếu tố đó góp phần làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng và bệnh cảnh lâm sàng càng trở nên phức tạp hơn. Phân loại VDDRC được phân loại tùy thuộc vào thời gian kéo dài các triệu chứng, trong đó một đợt VDDRC kéo dài ít hơn 2 tuần là VDDRC cấp tính. Theo Chu Văn Tường, VDDRC cấp tính ở trẻ em thường xảy ra dưới 5 ngày, VDDRC kéo dài 2 tuần còn gọi là VDDRC kéo dài [7]. Ngày nay, người ta xác định 3 hội chứng lâm sàng khác nhau của VDDRC gồm: - Tiêu chảy phân lỏng cấp tính: gồm các trường hợp khởi bệnh cấp tính, kéo dài dưới 14 ngày.

- Hội chứng lỵ: gồm các trường hợp tiêu chảy phân có đàm máu. - Tiêu chảy kéo dài: gồm các trường hợp khởi đầu với tiêu chảy cấp tính rồi kéo dài trên 14 ngày. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, tiêu chảy phân lỏng cấp tính chiếm 47,29%, hội chứng lỵ chiếm 51,25%, tiêu chảy kéo dài chiếm 1,48%. Tình hình bệnh VDDRC trên thế giới và Việt Nam Các bệnh về VDDRC là nguyên nhân chính của dịch bệnh và tử vong ở trẻ em tại các nước đã và đang phát triển [73].

Bệnh thường lây qua đường tiêu hóa và thường gặp ở các khu dân cư có điều kiện sống không đảm bảo, trình độ dân trí thấp, kiến thức về phòng chống VDDRC bị hạn chế. Trên thế giới, ước tính có 712.000 trường hợp tử vong do VDDRC, chiếm 9,9% trong tổng số 6,9 triệu trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi (thống kê năm 2011) [56]. Ở Châu Phi, Châu Á và Mỹ Latinh đã có 744 triệu đến 1 tỷ trường hợp viêm dạ dày cấp và 2,4 đến 3,3 triệu trường hợp tử vong hàng năm ở trẻ em dưới 5 tuổi [73]. Tử vong do VDDRC hàng năm từ 3-6 triệu trẻ em, có 80% trong số này là trẻ em dưới 2 tuổi [6].

Tại Việt Nam, theo thống kê của Bệnh viên nhi Trung ương cho biết, trung bình mỗi trẻ bị VDDRC 3 lần/ năm, nhóm trẻ tại vùng nông thôn có tỷ lệ mắc cao hơn do ý thức vệ sinh kém, trẻ không được chăm sóc cẩn th n. Do đó, bệnh VDDRC được đưa vào số 26 bệnh báo cáo thường xuyên. Số ca bệnh VDDRC trong năm 2012 ở 28 tỉnh miền Bắc là 433.000, chỉ đứng sau số ca có triệu chứng cúm (870. Số ca tử vong ước tính (năm 2005) là 9600-12.400 ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi do VDDRC.

Trong năm 2005, ước tính chi phí điều trị trực tiếp cho những trường hợp VDDRC lên đến 3,1 triệu đô la Mỹ, 685.000 đô la cho chi phí trực tiếp khác và 1,5 triệu đô dành cho chi phí gián tiếp [33]. Trong số trẻ dưới 5 tuổi 15% sẽ phải nh p viện do VDDRC và 50% cần tới phòng khám [16]. Những con số trên cho thấy gánh nặng của bệnh VDDRC cho bản thân trẻ, gia đình và nền y tế nước ta. Dịch tễ học bệnh VDDRC a.

Các đường lây truyền Hầu hết các nghiên cứu về bệnh sinh - dịch tễ cho rằng, các tác nhân gây tiêu chảy đều chủ yếu truyền qua đường phân, miệng thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm hay lây do tiếp xúc trực tiếp với phân người bị bệnh VDDRC, hoặc trung gian truyền bệnh như ruồi, dán… 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số hành vi làm gia tăng sự lan truyền tác nhân gây bệnh VDDRC - Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu tiên sau khi sinh: theo tổ chức Y tế Thế giới, những trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu tiên của cuộc đời có nguy cơ mắc VDDRC gấp nhiều lần so với những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn, nguy cơ tử vong do tiêu chảy của những trẻ này cũng lớn hơn một cách đáng kể. Bởi sữa mẹ có chứa globulin miễn dịch chủ yếu là IgA (95%) IgM, IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống các bệnh đường ruột và một số bệnh khác do virus gây ra [14]. - Tập quán cai sữa sớm (trước 1 tuổi): Cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sẽ làm giảm chỉ số mắc và sự trầm trọng của một số bệnh VDDRC như lỵ trực tràng và tả.

- Cho trẻ bú sữa bình: Khi cho sữa vào một bình không sạch thì sẽ bị ô nhiễm, nếu trẻ không bú hết sữa trong bình thì sự phát triển của vi khuẩn sẽ xảy ra. - Tập quán cho ăn dặm sớm (trước 4 tháng tuổi): Cho ăn dặm không đúng, quá sớm hay quá muộn hoặc ăn dặm không đúng cách đều dễ dẫn đến VDDRC dẫn đến suy dinh dưỡng. - Dùng nước uống đã bị nhiễm tác nhân đường ruột: Nước có thể bị nhiễm bẩn ngay tại nguồn của nó hoặc trong suốt quá trình dự trữ tại nhà. Sự ô nhiễm tại nhà là do bảo quản hoặc sử dụng không hợp vệ sinh.

- Không rửa tay sau khi đi ngoài, sau khi xử lý phân, trước khi chuẩn bị thức ăn: Thói quen rửa tay là một hành vi tốt bảo vệ sức khỏe chung, đặc biệt có hiệu lực đối với việc phòng VDDRC. - Không xử lý phân (đặc biệt là phân trẻ nhỏ) một cách hợp vệ sinh: Nhiều b c cha mẹ thường cho rằng phân trẻ em là không nguy hiểm, nhưng thực ra, chúng chứa rất nhiều virus và vi khuẩn gây bệnh. Phân súc v t cũng chứa nhiều vi sinh v t có thể truyền bệnh cho người. Các yếu tố vật chủ liên quan đến sự gia tăng chỉ số mắc, mức độ trầm trọng, thời gian bị bệnh VDDRC - Suy dinh dưỡng: VDDRC và suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽ với nhau nhất là đối với những trẻ suy dinh dưỡng nặng, những trẻ đó sự hồi phục niêm mạc 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ruột bị ch m trễ do thiếu vitamin A, giảm sức đề kháng của cơ thể.

Sự nghiêm trọng, kéo dài và nguy cơ dễ tử vong doVDDRC sẽ gia tăng đối với những trẻ bị suy dinh dưỡng. Ngược lại điều này sẽ làm cho tình trạng suy dinh dưỡng trở nên trầm trọng hơn [8]. - Sởi: Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, tiêu chảy và lỵ thường gặp ở trẻ đang bị sởi hoặc mới khỏi bệnh sởi trong vòng 4 tuần lễ, do trong thời gian này hệ thống miễn dịch bị suy giảm [1]. - Bệnh suy giảm miễn dịch hoặc ức chế miễn dịch: Tình trạng này có thể tạm thời do một số bệnh nhiễm vi rus (như sởi), hoặc có thể kéo dài như ở những người có hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV/AIDS).

Nếu tình trạng ức chế miễn dịch nặng thì VDDRC có thể xảy ra do các tác nhân bất thường và bệnh cũng có thể kéo dài. - Tuổi: Hầu hết tiêu chảy xảy ra trong hai năm đầu cuộc đời. Chỉ số mắc bệnh cao nhất là ở nhóm trẻ 6-11 tháng, khi mới t p ăn dặm [6]. Theo tổ chức Y tế Thế giới cho biết, nhóm tuổi này dễ mắc bệnh VDDRC bởi vì thời kỳ này trẻ phải ăn thức ăn bổ sung, trong khi đó các yếu tố bảo vệ chống tiêu chảy trong sữa mẹ lại giảm.

Tính chất mùa Người ta nh n thấy tình trạng VDDRC trẻ em có sự khác biệt theo mùa ở nhiều địa dư khác nhau. Ở những vùng ôn đới, VDDRC do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa nóng, ngược lại VDDRC do virus, đặc biệt là RV lại xảy ra cao điểm vào mùa đông. Ở những vùng nhiệt đới,VDDRC do RV xảy ra quanh năm nhưng tăng vào các tháng khô và lạnh, ngược lại VDDRC do vi khuẩn lại xuất hiện cao điểm vào giao điểm giữa mùa mưa và nóng. Tỷ lệ mắc VDDRC kéo dài cũng dao động theo mùa.

Các vụ dịch Hai tác nhân gây bệnh có thể gây thành dịch lớn và tử vong cao là Vibro cholerae 01 và Shigella dysenteriae týp 1. Những vụ dịch xảy ra gần đây là năm 1961, dịch xảy ra do Vibrio cholerae 01 ở Indonesia lan đến Châu Á, Trung C n Đông và Châu Phi, một số nước châu Âu và Bắc Mỹ. Shigella dysenteria Týp 1 gây 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dịch lỵ lớn ở Trung Mỹ và gần đây ở Châu Phi và vùng Nam Á. Ngoài ra, còn có một số vụ dịch lỵ trực khuẩn ở Trung Mỹ, Trung Phi và Nam Phi.

Các tác nhân gây VDDRC Tác nhân gây VDDRC khá đa dạng, nhiều nghiên cứu miêu tả 26 các loại tác nhân khác nhau từ virus như: RV, NoV, adenovirus (Adv), astrovirus, đến vi khuẩn như các chủng E.coli gây tiêu chảy (DEC) như: vi khuẩn thuộc họ Vibrio trong đó có phảy khuẩn tả (V.cholera), Samonella, Shigella, ký sinh trùng như họ Crytosporidium, Giardialamblia, Entamoeba histolytica… [55, 60]. Tuy nhiên, dù là 26 tác nhân trong một số ít nghiên cứu, hay 2-6 tác nhân trong đa số các nghiên cứu, tỷ lệ phát hiện ít nhất một tác nhân không vượt quá mức 80%. Trong số đó, 60- 70% do vi rút gây ra, thường gặp là RV, NoV. Một số tác nhân gây tiêu chảy: - Nhóm vi rút: RV, NoV, adenovirus.

- Nhóm vi khuẩn: Vibrio cholera, Salmonella, Shigella, E. - Ký sinh trùng: Crytosporidium 1. G ớ t ệu c un về NoV 1. Bệnh VDDRC do nhiễm NoV NoV được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày ruột cấp tính ở trẻ em và người lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ