Chương 1 NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN QUỲNH TRANG 1. Nhân vật văn học 1. Khái niệm nhân vật Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi nó chính là phương tiện cơ bản nhất để nhà văn thể hiện hiện thực một cách hình tượng. Nhà văn sáng tạo nên nhân vật để thể hiện nhận thức, cách nhìn của mình về một cá nhân nào đó, một loại người, một vấn đề hiện thực nào đó của xã hội.
Về khái niệm nhân vật, Tô Hoài trong cuốn Sổ tay viết văn cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”. Lý giải nhận định này ta có thể hiểu rằng nhân vật không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật thể hiện tư tưởng của tác giả thông qua tác phẩm của mình. Thành công hay thất bại của một tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào cách xây dựng nhân vật của tác giả. Khi nhắc đến nhân vật trong tác phẩm văn học người đọc thường hiểu đó là con người được xây dựng bằng các phương tiện của văn học.
Thông thường nhân vật có thể là những con người được miêu tả thông qua tác phẩm. Nhưng trong nhiều trường hợp nhân vật lại ở phạm vi rộng hơn, nó có thể là sự vật hay đồ vật được“người hóa”, nhân cách hóa mang tâm hồn tính cách như con người. Điều này được nói rõ hơn trong cuốn Lý luận văn học, Hà Minh Đức định nghĩa như sau: “Nhân vật văn học là một hiện tượng mang tính ước lệ, đó không phải là một sự sao chụp đầy đủ một chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách. và cần chú ý thêm một điều: Thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, đó không chỉ là những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người.
cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc liên quan tới con người, được thể 7 hiện nổi bật trong tác phẩm” (Hà Minh Đức, 2006). Những dấu hiệu này thường được biểu hiện ngay từ đầu và thông thường sự phát triển về sau của nhân vật cũng gắn bó mật thiết với những miêu tả ước lệ ban đầu. Ví dụ như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du ta có thế thấy rõ điều này, ngay từ khi giới thiệu nhân vật hai chị em Thúy Kiều Thúy Vân ta dường như được báo trước về số phận mỗi người sau này. Trong khi Thúy Vân được miêu tả: Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Chỉ bằng vài nét chấm phá tinh tế mà tác giả đã phác họa được chi tiết vẻ đẹp của một "tuyệt thế giai nhân", một thiếu nữ "sắc nước hương trời". Khác với vẻ đẹp "sắc sảo", "mặn mà" của Thúy Kiều, Thúy Vân lại mang vẻ đẹp "trang trọng". Đó là vẻ đẹp toát tên từ con người cao sang, đứng đắn và quý phái ít ai có được. Thúy Vân có vẻ đẹp hài hòa từ ngoại hình đến tính cách, mỗi nét trên gương mặt của nàng đều thể hiện điều đó.
Khuôn mặt Vân tròn đầy và hiền dịu như ánh trăng đêm rằm. Nằm dưới đôi lông mày dài, hơi đậm là một đôi mắt đẹp được ví với "mắt phượng mày ngài". Bút pháp tiêu biểu của văn học trung đại là bút pháp ước lệ tượng trưng. Nguyễn Du đã sử dụng triệt để bút pháp này để đặc tả vẻ đẹp của Thúy Vân.
Nói vậy để thấy được nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc loại hình nghệ thuật khác, nhân vật văn học được thể hiện qua chất liệu ngôn từ. Vì vậy nhân vật văn học đòi hỏi bạn đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, sự liên tưởng để dựng nên một con người hoàn chỉnh với các mối quan hệ xã hội quanh mình. Biểu hiện của nhân vật trong tác phẩm văn học rất phong phú và đa dạng. Có nhân vật hiện ra khá hoàn thiện từ ngoại hình, nội tâm cho đến hành động, tiểu sử như ở trong các tác phẩm tự sự.
Có nhân vật lại chỉ hiện ra qua ngôn ngữ trong kịch bản văn học. Có nhân vật chỉ được bộc lộ qua cảm xúc, ý nghĩa như nhân vật trong tác phẩm trữ tình. Có nhân vật không được miêu tả chân dung, 8 ngoại hình, hành động. Có nhân vật chỉ đơn giản là những con vật, những đồ vật được nhân hóa… hiện ra muôn màu, muôn vẻ.
Thế giới nhân vật do nhà văn sáng tạo ra rất phong phú. Xét từ góc độ nội dung tư tưởng và căn cứ vào phẩm chất nhân vật có thể chia ra nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật trung gian. Xét ở tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trong tác phẩm có thể chia ra nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm. Xét từ góc độ thể loại có thể có nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật trữ tình.
Xét từ góc độ cấu trúc nhân vật ta có nhân vật chức năng, nhân vật tư tưởng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách. Còn trong cuốn Từ điển Thuật ngữ văn học, cho rằng: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, Chị Dậu, Anh Pha…) cũng có thể không có tên riêng, khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm (.) nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” (Lê Bá Hán, 2007). Từ nhận định này ta có thể biết muốn nhận định một nhân vật ta có thể căn cứ vào các đặc điểm của nó.
Đầu tiên ta có thể căn cứ vào tên gọi của nhân vật, thông thường mỗi nhân vật đều có tên gọi riêng cụ thể như Chí Phèo, Tràng, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mỵ Nương, Trọng Thủy,… Nhưng cũng có khi nhân vật được gọi tên theo dấu hiệu nghề nghiệp, đặc điểm giới tính, tiểu sử hay một đặc điểm đặc biệt của nhân vật như lão tiều phu, anh thợ săn, lão phú ông, thằng sở khanh,… Cũng có khi nhân vật được gọi tên theo tên gọi của những nhân vật được nhân cách hóa, hoặc cũng có thể được gọi bằng tên gọi những nhân vật tưởng tượng hư cấu như Bụt, Diêm Vương, Ma Vương,… Trong cuốn 150 Thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đề xuất một cách nhìn khác. Nhân vật được ông xem xét trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học: “Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách. Nhân vật văn học là hình tượng nghệ 9 thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” (Lại Nguyên Ân, 2003).
Từ đây ta có thể hiểu nhân vật trong tác phẩm văn học là con người hay những sự vật, đồ vật mang tính cách của con người được xây dựng bằng phương tiện của nghệ thuật ngôn từ. Ý nghĩa của nhân vật được thể hiện ở khả năng biểu đạt và truyền tải thông điệp của nó tác phẩm. Sáng tạo ra nhân vật nhà văn đã thể hiện được những cá thể nhất định và các quan niệm của các nhân vật đó trong các mối quan hề xã hội. Khi bắt gặp một nhân vật trong tác phẩm ta không thể chỉ hiểu một số phận, một cuộc đời mà còn còn hiểu ý nghĩa cuộc đời, thông điệp xã hội mà tác giả đã gửi gắm vào đó.
Mỗi nhân vật sẽ là tiếng nói của nhà văn, là quan điểm của nhà văn về con người, về cuộc đời và rộng hơn là về xã hội. Do vậy sức sống của nhân vật, sự trường tồn của nhân vật rất lớn. Những nhân vật được xây dựng thành công có sức sống mãnh liệt trong lòng độc giả, tồn tại qua nhiều thế hệ có khi còn trở thành những tượng đài ngôn từ bất hủ qua nhiều thập kỉ. Những nhân vật đó không còn nằm yên trong trang sách mà đã bước ra giữa cuộc đời làm nên tên tuổi cho nhà văn.
Nhân vật là yếu tố quan trọng cấu thành tác phẩm văn học, thể hiện những quan niệm nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người và cuộc đời. Nhà văn xây dựng nhân vật không chỉ để phản ánh hiện thực mà còn để phản ánh tư tưởng nghệ thuật, sự sáng tạo của mình về đời sống, con người trong tác phẩm. Nói tóm lại, nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người. Nhân vật là con đẻ của nhà văn, là sản phẩm của sáng tạo nghệ thuật nhằm thể hiện một tư tưởng cụ thể.
Những quan niệm về nhân vật văn học như trên là những chỉ dẫn cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về nhân vật văn học nói chung và nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Quỳnh Trang nói riêng. Vai trò của nhân vật văn học Nhà văn xây dựng nhân vật như là một phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực. Như vậy, chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống và con người, đồng thời qua đó cũng thể hiện những hiểu biết, những ước mơ kì vọng về cuộc sống của con người. Truyền thuyết Con rồng cháu tiên thể hiện niềm tự hào của Dân tộc Việt Nam về nòi giống của mình.
Các vị thần như thần Trụ Trời, thần Gió, thần Mưa trong các câu chuyện thần thoại thể hiện những nhận thức về sức mạnh của tự nhiên mà con người nguyên thủy chưa giải thích được. Hay nhân vật anh hùng Hecralet với mười hai kì công trong thần thoại Hi Lạp chính là những mong ước có được sức mạnh để chinh phục thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống.