Chương 1: Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận và hành vi QTLN. Chương này trình bày các khái niệm về QTLN, phân loại hành vi QTLN. Đồng thời trình bày các lý thuyết nền tảng cơ bản làm cơ sở biện luận cho các kết quả trong nghiên cứu, trình bày các cơ sở lý thuyết của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu, chương này đề cập đến quy trình thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình nghiên cứu dự kiến và luận văn cũng đề cập đến đo lường biến phụ thuộc và các biến độc lập.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu, chương này đề cập các kết quả thu thập được trong giai đoạn nghiên cứu định lượng. Từ đó luận văn cũng bàn luận kết quả nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu. Chương 4: Hàm ý – Chính sách. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở chương 3, chương này trình bày kết quả đạt được của nghiên cứu và hàm ý các chính sách liên quan.
e 15 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN VÀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 1. Lợi nhuận Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng và quan trọng của một công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận: Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson và cộng sự (1958) định nghĩa rằng: “ Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”. - Theo VAS 17 thì: “lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”. Lợi nhuận đối với kế toán tài chính thường được công bố rộng rãi ra bên ngoài, đặc biệt là đối với công ty cổ phần niêm yết, các công bố này là tài liệu nghiên cứu cho cơ quan thuế, nhà đầu tư và một số ngân hàng thương mại.
Lợi nhuận đối với kế toán quản trị chủ yếu phục vụ cho ban lãnh đạo, hội đồng quản trị và nội bộ doanh nghiệp. - Từ các quan điểm trên, theo góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động đưa lại, là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. e 16 Tóm lại, theo đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi quản trị lợi nhuận (cụ thể là của nhà quản trị) trên BCTC tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, vì thế, đề tài hướng đến nghiên cứu lợi nhuận thuộc phạm vi kế toán tài chính, nghĩa là lợi nhuận của công ty đã được kiểm toán và công bố rộng rãi trên trang mạng thông tin đại chúng. Vì có như vậy, đề tài mới có căn cứ để xác định có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị.
Hành vi quản trị lợi nhuận 1. Khái niệm Hành vi quản trị lợi nhuận đã trở thành một lĩnh vực được nghiên cứu sâu rộng trên thế giới. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các nhà nghiên cứu thường phát triển định nghĩa riêng của họ về hành vi điều chỉnh lợi nhuận để phù hợp với mục đích của họ (Noronha và cộng sự, 2008).
Davidson và các cộng sự (1987) định nghĩa, quản trị lợi nhuận là quy trình bao gồm các bước có cân nhắc kỹ lưỡng trong khuôn khổ của các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, nhằm mang lại mức lợi nhuận mong muốn. Theo Schipper (1989) cho rằng, quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân. Theo Levitt (1998) thì điều chỉnh lợi nhuận là hành động nhằm làm cho báo cáo tài chính phản ánh mong muốn của nhà quản trị chứ không phải là hoạt động tài chính cơ bản của công ty. Tương đồng với các quan điểm trên, Parfet (2000) cũng cho rằng điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện nhằm che giấu hoạt động tài chính thực bằng cách tạo ra các nghiệp vụ kế toán không có thực hoặc làm các dự toán không hợp lý.
e 17 Tuy nhiên, ngược lại những quan điểm trên, Beneish (2001) lại cho rằng mục đích điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý là nhằm công bố thông tin với chất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của họ về các dòng tiền mà doanh nghiệp sẽ mang đến trong tương lai. Ngoài ra, tùy thuộc vào mục tiêu công bố thông tin, Ronen và Yaari (2008) đã phân loại khái niệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thành ba nhóm như sau: - Nhóm điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): các nhà quản lý dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách linh hoạt nhằm thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai. Đây được xem là nhóm có lợi và gia tăng chất lượng báo cáo tài chính. - Nhóm điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các nhà quản lý lựa chọn các chính sách kế toán trong và ngoài giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp hoặc vì lợi ích của họ.
- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): là hành vi sử dụng các thủ thuật của quản lý để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của báo cáo tài chính. Trên quan điểm của tác giả, “Quản trị lợi nhuận” là hành vi có thể được thực hiện trong hoặc ngoài phạm vi cho phép của các quy định, chuẩn mực, chế độ kế toán nhằm giúp nhà quản trị đạt được các mục tiêu về lợi nhuận thông qua các công cụ, phương pháp kế toán. Tuy có sự đa dạng trong cách nhìn nhận về “quản trị lợi nhuận”, nhưng về nguyên tắc, việc nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận trong phạm vi các nguyên tắc kế toán, vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán hay ước tính kế toán là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, nhiều khi việc quản trị này đi e 18 quá giới hạn và làm thông tin bị bóp méo.
Thủ thuật quản trị lợi nhuận lợi nhuận 1. Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn: Nếu doanh nghiệp ghi nhận doanh thu, giá vốn theo tiến độ hoàn thành thì phương pháp này cho phép doanh nghiệp có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các ước tính mức độ hoàn thành công việc. Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định: Lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ. Lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa tài sản cố định: Doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa tài sản cố định.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tại thời điểm chưa phát sinh chi phí và mức trích này sẽ gia tăng chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ. Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho: Doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau từ đó ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán và lợi nhuận trong kỳ. Lựa chọn phương pháp kế toán chi phí lãi vay: Đối với khoản chi phí lãi vay tùy trường hợp có thể được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ hoặc ghi nhận như là chi phí phát sinh. Việc phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán, do đó trong trường hợp này doanh nghiệp có thể lợi dụng kế toán chi phí lãi vay để điều chỉnh lợi nhuận.
Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ phát sinh: e 19 Ước tính thời gian khấu hao TSCĐ, ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước, ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp Ước tính kế toán mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ kế toán: Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch vụ, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự phòng, ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập dự phòng 1. Quản trị lợi nhuận thông qua các quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh doanh Quyết định về thời điểm lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ: Nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán TSCĐ để đẩy nhanh hay làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận thua lỗ của các hoạt động khác. Quyết định quản lý về việc thực hiện nghiệp vụ tiêu thụ: Nhà quản lý có thể quyết định đẩy lùi thời điểm lập hóa đơn bán hàng sang kỳ sau hoặc ngược lại để điều chỉnh doanh thu, giá vốn trong kỳ. Quyết định về việc thực hiện các khoản chi phí nghiên cứu và triển khai: Doanh nghiệp có thể cắt giảm các chi phí này hoặc quyết định thời điểm ghi nhận để tăng lợi nhuận hoặc ngược lại.
Quyết định về các khoản đầu tư: Doanh nghiệp có thể bán các khoản đầu tư đang sinh lời hoặc thực hiện nghiệp vụ mua bán cổ phần để biến các doanh nghiệp khác trở thành công ty con, công ty liên doanh, liên kết từ đó thay đổi lợi nhuận.